中文圣经

II SA-MU-ÊN 24

đã biết 0/282

使

yē hé huá yòu xiàng yǐ sè liè rén fā nù , jiù jī dòng dà wèi , shǐ tā fēn fù rén qù shù diǎn yǐ sè liè rén hé yóu dà rén 。

Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va lại nổi phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên. Ngài giục lòng Đa-vít nghịch cùng chúng mà rằng: Hãy đi tu bộ dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.

:「。」

dà wèi jiù fēn fù gēn suí tā de yuán shuài yuē yā shuō :「 nǐ qù zǒu biàn yǐ sè liè zhòng zhī pài , cóng dàn zhí dào bié shì bā , shù diǎn bǎi xìng , wǒ hǎo zhī dào tā men de shù mù 。」

Vua bèn nói với Giô-áp, là quan tổng binh ở gần người, mà rằng: Hãy đi khắp các chi phái Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e-Sê-ba, tu bộ dân sự, để cho ta biết số dân Y-sơ-ra-ên là bao nhiêu.

:「 使?」

yuē yā duì wáng shuō :「 wú lùn bǎi xìng duō shǎo , yuàn yē hé huá — nǐ de shén zài jiā zēng bǎi bèi , shǐ wǒ zhǔ wǒ wáng qīn yǎn dé jiàn 。 wǒ zhǔ wǒ wáng hé bì xǐ yuè xíng zhè shì ne ?」

Giô-áp đáp cùng vua rằng: Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua làm cho dân sự vua ngày nay được còn thêm gấp bằng trăm, và nguyện mắt vua chúa tôi thấy sự gia thêm ấy! Nhưng cớ sao vua chúa tôi vui lòng về một việc như vậy?

dàn wáng de mìng lìng shèng guò yuē yā hé zhòng jūn cháng 。 yuē yā hé zhòng jūn zhǎng jiù cóng wáng miàn qián chū qù , shù diǎn yǐ sè liè de bǎi xìng 。

Dầu vậy mặc lòng, lời của vua mạnh hơn sự chống trả của Giô-áp và các quan tướng. Vậy, Giô-áp và các quan tướng ở trước mặt vua, đều đi ra đặng tu bộ dân Y-sơ-ra-ên.

tā men guò le yuē dàn hé , zài jiā dé gǔ zhōng 、 chéng de yòu biān yà luó ěr ān yíng , yǔ yǎ xiè xiāng duì ,

Sau khi qua sông Giô-đanh rồi, chúng hạ trại tại A-rô-e, về phía hữu thành ở giữa trũng Gát; rồi hại trại tại Gia-ê-xe.

··西

yòu dào le jī liè hé tā tíng · hé shì dì , yòu dào le dàn · yǎ ān , rào dào xī dùn ,

Từ đó họ đi vào trong xứ Ga-la-át, về hướng xứ thấp của Hốt-si. Kế đó, họ đến Đan-Gia-an và miền chung quanh Si-đôn.

lái dào tài ěr de bǎo zhàng , bìng xī wèi rén hé jiā nán rén de gè chéng , yòu dào yóu dà nán fāng de bié shì bā 。

Họ cũng đi đến thành lũy xứ Ty-rơ, vào các thành dân Hê-vít và dân Ca-na-an, rồi họ giáp đến Bê-e-Sê-ba tại miền nam Giu-đa.

tā men zǒu biàn quán dì , guò le jiǔ gè yuè líng èr shí tiān , jiù huí dào yē lù sā lěng 。

Như vậy, họ đi khắp xứ và trở về Giê-ru-sa-lem trong chín tháng và hai mươi ngày.

yuē yā jiāng bǎi xìng de zǒng shù zòu gào yú wáng : yǐ sè liè ná dāo de yǒng shì yǒu bā shí wàn ; yóu dà yǒu wǔ shí wàn 。

Giô-áp bèn trao cho vua cái sổ trọn sự tu bộ dân sự: trong Y-sơ-ra-ên có tám trăm ngàn người lính chiến, có tài cầm gươm được, và trong Giu-đa năm trăm ngàn người.

:「。」

dà wèi shù diǎn bǎi xìng yǐ hòu , jiù xīn zhōng zì zé , dǎo gào yē hé huá shuō :「 wǒ xíng zhè shì dà yǒu zuì le 。 yē hé huá a , qiú nǐ chú diào pú rén de zuì niè , yīn wǒ suǒ xíng de shèn shì yú mèi 。」

Sau khi tu bộ dân sự rồi, Đa-vít bị lương tâm cắn rứt, bèn cầu Đức Giê-hô-va rằng: Tôi làm như vậy, thật là đã phạm tội rất nặng. Vậy, bây giờ Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy cất tội lỗi của kẻ tôi tớ Ngài đã phạm; vì tôi có làm cách ngu dại quá.

dà wèi zǎo chén qǐ lái , yē hé huá de huà lín dào xiān zhī jiā dé , jiù shì dà wèi de xiān jiàn , shuō :

Sáng ngày mai, khi Đa-vít dậy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tiên tri Gát, là người tiên kiến của Đa-vít, rằng:

:『。』」

「 nǐ qù gào sù dà wèi , shuō yē hé huá rú cǐ shuō :『 wǒ yǒu sān yàng zāi , suí nǐ xuǎn zé yí yàng , wǒ hǎo jiàng yǔ nǐ 。』」

Hãy đi nói với Đa-vít: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta có ba điều định cho ngươi; trong ba điều đó, hãy chọn một, rồi ta sẽ lấy nó mà phạt ngươi.

:「。」

yú shì jiā dé lái jiàn dà wèi , duì tā shuō :「 nǐ yuàn yì guó zhōng yǒu qī nián de jī huāng ne ? shì zài nǐ dí rén miàn qián táo pǎo , bèi zhuī gǎn sān gè yuè ne ? shì zài nǐ guó zhōng yǒu sān rì de wēn yì ne ? xiàn zài nǐ yào chuāi mó sī xiǎng , wǒ hǎo huí fù nà chà wǒ lái de 。」

Gát đi đến cùng Đa-vít, thuật các lời đó cho người, mà rằng: Vua muốn chọn điều nào? hoặc bảy năm đói kém trong nước vua, hoặc trong ba tháng vua phải chạy trốn khỏi trước mặt kẻ thù nghịch đuổi theo vua, hoặc ba ngày dịch hạch trong nước vua? Bây giờ, hãy suy nghĩ và xem điều tôi phải thưa lại cùng Đấng đã sai tôi.

:「。」

dà wèi duì jiā dé shuō :「 wǒ shèn wéi nán ! wǒ yuàn luò zài yē hé huá de shǒu lǐ , yīn wèi tā yǒu fēng shèng de lián mǐn 。 wǒ bú yuàn luò zài rén de shǒu lǐ 。」

Đa-vít bèn đáp cùng Gát rằng: Sự khốn khổ tôi lớn thay! Thế thì, nguyện tôi sa vào tay của Đức Giê-hô-va, vì những sự thương xót của Ngài là lớn lắm; nhưng chớ cho tôi sa vào tay của loài người ta.

yú shì , yē hé huá jiàng wēn yì yǔ yǐ sè liè rén , zì zǎo chén dào suǒ dìng de shí hòu ; cóng dàn zhí dào bié shì bā , mín jiān sǐ le qī wàn rén 。

Vậy, Đức Giê-hô-va khiến dịch hạch phá hại trong dân Y-sơ-ra-ên, từ buổi sớm mai cho đến thì giờ Ngài đã nhất định. Trong dân sự, từ Đan đến Bê-e-Sê-ba, chết bảy vạn người.

使使:「!」使

tiān shǐ xiàng yē lù sā lěng shēn shǒu yào miè chéng de shí hòu , yē hé huá hòu huǐ , jiù bú jiàng zhè zāi le , fēn fù miè mín de tiān shǐ shuō :「 gòu le ! zhù shǒu ba !」 nà shí yē hé huá de shǐ zhě zài yē bù sī rén yà láo ná de hé chǎng nà lǐ 。

Thiên sứ giơ tay ra trên Giê-ru-sa-lem đặng hại nó; song Đức Giê-hô-va hối hận về tai họa ấy, bèn phán cùng thiên sứ hành hại dân sự rằng: Thôi! bây giờ hãy rút tay ngươi lại. Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va ở gần sân đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.

使:「。」

dà wèi kàn jiàn miè mín de tiān shǐ , jiù dǎo gào yē hé huá shuō :「 wǒ fàn le zuì , xíng le è ; dàn zhè qún yáng zuò le shén me ne ? yuàn nǐ de shǒu gōng jī wǒ hé wǒ de fù jiā 。」

Đa-vít thấy thiên sứ hành hại dân sự, bèn thưa với Đức Giê-hô-va như vầy: Aáy chính tôi đã phạm tội, tôi là kẻ có tội; còn các con chiên kia có làm chi? Nguyện tay Chúa chỉ hành hại tôi và nhà cha tôi.

:「。」

dāng rì , jiā dé lái jiàn dà wèi , duì tā shuō :「 nǐ shàng qù , zài yē bù sī rén yà láo ná de hé chǎng shàng wèi yē hé huá zhù yí zuò tán 。」

Ngày đó, Gát đến tìm Đa-vít, và nói rằng: Hãy đi lên, lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại nơi sân đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.

dà wèi jiù zhào zhe jiā dé fèng yē hé huá míng suǒ shuō de huà shàng qù le 。

Vậy, Đa-vít theo lời của Gát, đi lên y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn người.

yà láo ná guān kàn , jiàn wáng hé tā chén pú qián lái , jiù yíng jiē chū qù , liǎn fú yú dì , xiàng wáng xià bài ,

A-rau-na ngước mắt lên, thấy vua và các tôi tớ người đi tới trước mặt mình, liền đi ra và sấp mình xuống đất trước mặt vua.

:「?」:「使。」

shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng wèi hé lái dào pú rén zhè lǐ ne ?」 dà wèi shuō :「 wǒ yào mǎi nǐ zhè hé chǎng , wèi yē hé huá zhù yí zuò tán , shǐ mín jiān de wēn yì zhǐ zhù 。」

Đoạn, A-rau-na nói: Cớ chi vua chúa tôi đến nhà kẻ tôi tớ vua? Đa-vít đáp: Aáy đặng mua sân đạp lúa ngươi, và xây tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, để ngừng tai họa hành hại dân sự.

:「

yà láo ná duì dà wèi shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng , nǐ xǐ yuè yòng shén me , jiù ná qù xiàn jì 。 kàn nǎ , zhè lǐ yǒu niú kě yǐ zuò fán jì , yǒu dǎ liáng de qì jù hé tào niú de è kě yǐ dāng chái shāo 。

A-rau-na tâu với Đa-vít rằng: Xin vua chúa tôi hãy dâng làm của lễ điều gì vua lấy làm tốt lành: Nầy những bò dùng làm của lễ thiêu; cộ và ách bò dùng làm củi để đốt của tế lễ.

」;:「 。」

wáng a , zhè yí qiè , wǒ yà láo ná dōu fèng gěi nǐ 」; yòu duì wáng shuō :「 yuàn yē hé huá — nǐ de shén yuè nà nǐ 。」

Oâi vua! mọi điều đó A-rau-na xin dâng cho vua. A-rau-na tiếp: Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua tiếp nhận vua!

:「 。」

wáng duì yà láo ná shuō :「 bù rán 。 wǒ bì yào àn zhe jià zhí xiàng nǐ mǎi ; wǒ bù kěn yòng bái dé zhī wù zuò fán jì xiàn gěi yē hé huá — wǒ de shén 。」 dà wèi jiù yòng wǔ shí shè kè lè yín zi mǎi le nà hé chǎng yǔ niú 。

Vua đáp cùng A-rau-na rằng: không không được; ta muốn mua hết của ngươi, cứ theo giá bạc. Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi. Vậy, Đa-vít mua sân đạp lúa và bò giá năm mươi siếc-lơ bạc.

dà wèi zài nà lǐ wèi yē hé huá zhù le yí zuò tán , xiàn fán jì hé píng ān jì 。 rú cǐ , yē hé huá chuí tīng guó mín suǒ qiú de , wēn yì zài yǐ sè liè rén zhōng jiù zhǐ zhù le 。

Người lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và dâng của lễ thiêu cùng của lễ thù ân. Thế thì, Đức Giê-hô-va động lòng thương Y-sơ-ra-ên, và tai họa trong xứ bèn ngừng lại.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.