中文圣经

I SA-MU-ÊN 14

đã biết 0/426

:「。」

yǒu yí rì , sǎo luó de ér zi yuē ná dān duì ná tā bīng qì de shào nián rén shuō :「 wǒ men bù rú guò dào nà biān , dào fēi lì shì rén de fáng yíng nà lǐ qù 。」 dàn tā méi yǒu gào sù fù qīn 。

Một ngày kia, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, nói cùng gã trai trẻ vác binh khí mình, mà rằng: Hè, chúng ta hãy đi qua đồn quân Phi-li-tin, đóng ở phía bên kia. Nhưng người chẳng nói cho cha mình hay.

sǎo luó zài jī bǐ yà de jìn biān , zuò zài mǐ jī de shí liú shù xià , gēn suí tā de yuē yǒu liù bǎi rén 。

Bấy giờ, Sau-lơ ở tại đầu ranh Ghi-bê-a, dưới cây lựu của Mi-gơ-rôn, còn đạo quân theo người ước chừng sáu trăm người.

穿。(。)

zài nà lǐ yǒu yà xī tū de ér zi yà xī yà , chuān zhe yǐ fú dé 。( yà xī tū shì yǐ jiā bó de gē ge , fēi ní hā de ér zi , yǐ lì de sūn zi 。 yǐ lì cóng qián zài shì luó zuò yē hé huá de jì sī 。) yuē ná dān qù le , bǎi xìng què bù zhī dào 。

A-hi-gia, con trai A-hi-túp, anh của Y-ca-bốt, con trai Phi-nê-a, cháu Hê-li, mặc áo ê-phót, làm thầy tế lễ tại Si-lô. Dân sự không biết Giô-na-than đi.

西

yuē ná dān yào cóng ài kǒu guò dào fēi lì shì fáng yíng nà lǐ qù 。 zhè ài kǒu liǎng biān gè yǒu yí gè shān fēng : yì míng bō xuē , yì míng xī ní ;

ỳ giữa đèo mà Giô-na-than gắng sức đi đặng đến đồn Phi-li-tin, có một răng đá ở bên nầy, và một răng ở bên kia; cái nầy gọi là Bốt-sết, còn cái kia gọi là Sê-nê.

yì fēng xiàng běi , yǔ mì mǒ xiāng duì , yì fēng xiàng nán , yǔ jiā bā xiāng duì 。

Một cái răng đá mọc lên về phía bắc, đối ngang Mích-ma, còn cái kia ở tại phía nam, đối ngang Ghê-ba.

:「使。」

yuē ná dān duì ná bīng qì de shào nián rén shuō :「 wǒ men bù rú guò dào wèi shòu gē lǐ rén de fáng yíng nà lǐ qù , huò zhě yē hé huá wèi wǒ men shī zhǎn néng lì ; yīn wèi yē hé huá shǐ rén dé shèng , bú zài hu rén duō rén shǎo 。」

Giô-na-than nói cùng kẻ vác binh khí mình rằng: Hè, chúng ta hãy hãm đồn của những kẻ chẳng chịu cắt bì kia. Hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta chăng; vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy.

:「。」

ná bīng qì de duì tā shuō :「 suí nǐ de xīn yì xíng ba 。 nǐ kě yǐ shàng qù , wǒ bì gēn suí nǐ , yǔ nǐ tóng xīn 。」

Kẻ vác binh khí của người thưa rằng: Hãy làm điều ông ước, và đi nơi nào ông muốn; lòng ông dẫn ông đi đâu, tôi sẽ theo đó.

:「使

yuē ná dān shuō :「 wǒ men yào guò dào nà xiē rén nà lǐ qù , shǐ tā men kàn jiàn wǒ men 。

Giô-na-than tiếp: Nầy, chúng ta hãy đi đến những người ấy, tỏ mình ra cho chúng nó.

:『』,

tā men ruò duì wǒ men shuō :『 nǐ men zhàn zhù , děng wǒ men dào nǐ men nà lǐ qù 』, wǒ men jiù zhàn zhù , bú shàng tā men nà lǐ qù 。

Nếu chúng nó nói: Hãy đợi chúng ta đến cùng các ngươi, thì chúng ta sẽ đứng lại chỗ mình và không lên đến cùng chúng nó.

:『』,便。」

tā men ruò shuō :『 nǐ men shàng dào wǒ men zhè lǐ lái 』, zhè huà jiù shì wǒ men de zhèng jù ; wǒ men biàn shàng qù , yīn wèi yē hé huá jiāng tā men jiāo zài wǒ men shǒu lǐ le 。」

Còn nếu chúng nó nói rằng: Hãy lên đến chúng ta; thì chúng ta sẽ lên; vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay chúng ta: điều đó sẽ dùng làm dấu hiệu cho chúng ta.

使:「!」

èr rén jiù shǐ fēi lì shì de fáng bīng kàn jiàn 。 fēi lì shì rén shuō :「 xī bó lái rén cóng suǒ cáng de dòng xué lǐ chū lái le !」

Vậy hai người đều đi lên đồn Phi-li-tin. Dân Phi-li-tin nói: Kìa, những người Hê-bơ-rơ ra từ hang đá là nơi chúng nó ẩn trốn kia.

:「。」:「。」

fáng bīng duì yuē ná dān hé ná bīng qì de rén shuō :「 nǐ men shàng dào zhè lǐ lái , wǒ men yǒu yí jiàn shì zhǐ shì nǐ men 。」 yuē ná dān jiù duì ná bīng qì de rén shuō :「 nǐ gēn suí wǒ shàng qù , yīn wèi yē hé huá jiāng tā men jiāo zài yǐ sè liè rén shǒu lǐ le 。」

Lính của đồn nói cùng Giô-na-than và kẻ vác binh khí mà rằng: Hãy đi đến chúng ta, chúng ta có chuyện tỏ cùng hai ngươi. Giô-na-than nói với kẻ vác binh khí mình rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên.

yuē ná dān jiù pá shàng qù , ná bīng qì de rén gēn suí tā 。 yuē ná dān shā dǎo fēi lì shì rén , ná bīng qì de rén yě suí zhe shā tā men 。

Giô-na-than dùng tay và chân leo lên, và kẻ cầm binh khí leo theo. Người Phi-li-tin ngã trước mặt Giô-na-than, và kẻ vác binh khí giết chúng nó chết ở đằng sau người.

yuē ná dān hé ná bīng qì de rén qǐ tóu suǒ shā de yuē yǒu èr shí rén , dōu zài yì mǔ dì de bàn lí gōu zhī nèi 。

Trong trận thứ nhất nầy, Giô-na-than và kẻ vác binh khí người giết chừng hai mươi người, trong một khoảng nửa công đất.

yú shì zài yíng zhōng 、 zài tián yě 、 zài zhòng mín nèi dōu yǒu zhàn jīng , fáng bīng hé lüè bīng yě dōu zhàn jīng , dì yě zhèn dòng , zhàn jīng zhī shì shèn dà 。

Sự hãi hùng tràn ra trong trại quân, trong đồng, và trong cả dân Phi-li-tin. Quân đồn và đảng cướp giựt đều bị kinh khủng; đất bị rúng động; ấy như một sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời vậy.

便

zài biàn yǎ mǐn de jī bǐ yà , sǎo luó de shǒu wàng bīng kàn jiàn fēi lì shì de jūn zhòng kuì sàn , sì wéi luàn cuàn 。

Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, đều thấy quân chúng Phi-li-tin tản lạc và chạy trốn lộn xộn.

:「?」

sǎo luó jiù duì gēn suí tā de mín shuō :「 nǐ men chá diǎn chá diǎn , kàn cóng wǒ men zhè lǐ chū qù de shì shuí ?」 tā men yì chá diǎn , jiù zhī dào yuē ná dān hé ná bīng qì de rén méi yǒu zài zhè lǐ 。

Bấy giờ, Sau-lơ nói với quân lính ở cùng mình rằng: Hãy kiểm điểm xem ai là những người đã bỏ hàng ngũ chúng ta. Chúng kiểm điểm, thấy thiếu Giô-na-than và kẻ vác binh khí người.

:「 。」

nà shí shén de yuē guì zài yǐ sè liè rén nà lǐ 。 sǎo luó duì yà xī yà shuō :「 nǐ jiāng shén de yuē guì yùn le lái 。」

Sau-lơ nói cùng A-hi-gia rằng: Hãy đem hòm của Đức Chúa Trời đến gần (vì trong ngày đó hòm của Đức Chúa Trời ở cùng dân Y-sơ-ra-ên).

:「!」

sǎo luó zhèng yǔ jì sī shuō huà de shí hòu , fēi lì shì yíng zhōng de xuān rǎng yuè fā dà le ; sǎo luó jiù duì jì sī shuō :「 tíng shǒu ba !」

Nhưng trong khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì tiếng ồn ào lại càng thêm lên trong trại quân Phi-li-tin. Sau-lơ nói cùng thầy tế lễ rằng: Hãy rút tay ngươi lại.

sǎo luó hé gēn suí tā de rén dōu jù jí , lái dào zhàn chǎng , kàn jiàn fēi lì shì rén yòng dāo hù xiāng jī shā , dà dà huáng luàn 。

Đoạn, Sau-lơ và hết thảy quân lính ở cùng người hiệp lại, đi tới chốn chiến trường, kìa thấy người Phi-li-tin rút gươm giết lẫn nhau, hỗn loạn cực điểm.

cóng qián yóu sì fāng lái gēn suí fēi lì shì jūn de xī bó lái rén xiàn zài yě zhuǎn guò lái , bāng zhù gēn suí sǎo luó hé yuē ná dān de yǐ sè liè rén le 。

Những người Hê-bơ-rơ đã từ lâu phục dân Phi-li-tin và theo họ trong trại quân, nay trở lòng hiệp với Y-sơ-ra-ên vẫn theo cùng Sau-lơ và Giô-na-than.

nà cáng zài yǐ fǎ lián shān dì de yǐ sè liè rén tīng shuō fēi lì shì rén táo pǎo , jiù chū lái jǐn jǐn dì zhuī shā tā men 。

Lại khi hết thảy người Y-sơ-ra-ên đang ẩn trong núi Eùp-ra-im, nghe dân Phi-li-tin chạy trốn, cũng rượt đuổi theo chúng nó mà đánh giặc.

使·

nà rì , yē hé huá shǐ yǐ sè liè rén dé shèng , yì zhí zhàn dào bó · yà wén 。

Đức Giê-hô-va giải cứu Y-sơ-ra-ên trong ngày đó; cơn giặc tràn đến Bết-A-ven.

sǎo luó jiào bǎi xìng qǐ shì shuō , fán bù děng dào wǎn shàng xiàng dí rén bào wán le chóu chī shén me de , bì shòu zhòu zǔ 。 yīn cǐ zhè rì bǎi xìng méi yǒu chī shén me , jiù jí qí kùn bèi 。

Cũng trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên bị mệt đuối. Vả lại, Sau-lơ có thề cùng dân sự rằng: Đáng rủa sả người nào sẽ ăn vật thực gì trước khi chiều tối, tức trước khi ta báo thù những kẻ cừu địch ta! Vì vậy, cả dân sự đều cử không ăn vật thực gì hết.

zhòng mín jìn rù shù lín , jiàn yǒu mì zài dì shàng 。

Song chúng dân đã đến trong một cái rừng có mật ong trên mặt đất.

tā men jìn le shù lín , jiàn yǒu mì liú xià lái , què méi yǒu rén gǎn yòng shǒu qǔ mì rù kǒu , yīn wèi tā men pà nà shì yán 。

Bấy giờ, dân sự đi vào trong rừng, thấy mật nầy chảy; chẳng ai dám chấm tay vào miệng, vì sợ lời thề.

yuē ná dān méi yǒu tīng jiàn tā fù qīn jiào bǎi xìng qǐ shì , suǒ yǐ shēn shǒu zhōng de zhàng , yòng zhàng tóu zhàn zài fēng fáng lǐ , zhuǎn shǒu sòng rù kǒu nèi , yǎn jīng jiù míng liàng le 。

Nhưng Giô-na-than không biết lời thề mà cha mình đã lập cùng dân sự, nên giơ đầu gậy mình cầm nơi tay chấm vào tàng mật ong, rồi lấy tay đem mật vào miệng, thì mắt người sáng ra.

:「。」

bǎi xìng zhōng yǒu yì rén duì tā shuō :「 nǐ fù qīn céng jiào bǎi xìng yán yán dì qǐ shì shuō , jīn rì chī shén me de , bì shòu zhòu zǔ ; yīn cǐ bǎi xìng jiù pí fá le 。」

Có người trong dân chúng cất tiếng nói rằng: Cha ông có thề cùng dân chúng rằng: Đáng rủa sả người nào ăn vật thực gì trong ngày nay. Vả, dân sự đều bị mệt đuối.

:「

yuē ná dān shuō :「 wǒ fù qīn lián lèi nǐ men le 。 nǐ kàn , wǒ cháng le zhè yì diǎn mì , yǎn jīng jiù míng liàng le 。

Giô-na-than đáp rằng: Cha ta làm rối cho xứ, hãy xem mắt ta đã sáng dường nào, vì cớ nếm chút mật nầy!

?」

jīn rì bǎi xìng ruò rèn yì chī le cóng chóu dí suǒ duó de wù , jī shā de fēi lì shì rén qǐ bú gèng duō ma ?」

è! chớ chi ngày nay dân sự đã ăn vật chiếm được của thù nghịch, thì sự thua bại dân Phi-li-tin đã lớn hơn biết bao!

zhè rì , yǐ sè liè rén jī shā fēi lì shì rén , cóng mì mǒ zhí dào yà yǎ 。 bǎi xìng shèn shì pí fá ,

Vậy ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn.

jiù jí máng jiāng suǒ duó de niú yáng hé niú dú zǎi yú dì shàng , ròu hái dài xuè jiù chī le 。

Dân sự bị mệt đuối lắm, bèn xông vào của cướp, bắt chiên, bò, bò con, giết đi trên đất, rồi ăn thịt lộn với huyết.

:「。」:「。」

yǒu rén gào sù sǎo luó shuō :「 bǎi xìng chī dài xuè de ròu , dé zuì yē hé huá le 。」 sǎo luó shuō :「 nǐ men yǒu zuì le , jīn rì yào jiāng dà shí tou gǔn dào wǒ zhè lǐ lái 。」

Có người đến nói cùng Sau-lơ rằng: Kìa, dân sự phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, mà ăn thịt lộn với huyết. Người đáp: Aáy là một sự lỗi đạo! Hãy lập tức lăn một hòn đá lớn đến gần ta.

:「。」

sǎo luó yòu shuō :「 nǐ men sàn zài bǎi xìng zhōng , duì tā men shuō , nǐ men gè rén jiāng niú yáng qiān dào wǒ zhè lǐ lái zǎi le chī , bù kě chī dài xuè de ròu dé zuì yē hé huá 。」 zhè yè , bǎi xìng jiù bǎ niú yáng qiān dào nà lǐ zǎi le 。

Lại tiếp rằng: Hãy đi khắp cơ binh rao rằng mỗi người phải dẫn đến ta chiên và bò mình, và giết đi tại đây. Rồi các ngươi sẽ ăn thịt nó; như vậy các người không phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà ăn thịt lộn với huyết. Thế thì, trong đêm đó, mỗi người trong chúng dẫn súc vật mình có dưới tay, và giết nó trên hòn đá.

sǎo luó wèi yē hé huá zhù le yí zuò tán , zhè shì tā chū cì wèi yē hé huá zhù de tán 。

Sau-lơ bèn lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va; ấy là bàn thờ thứ nhất mà người lập cho Đức Giê-hô-va.

:「。」:「!」:「 。」

sǎo luó shuō :「 wǒ men bù rú yè lǐ xià qù zhuī gǎn fēi lì shì rén , qiǎng lüè tā men , zhí dào tiān liàng , bù liú tā men yì rén 。」 zhòng mín shuō :「 nǐ kàn zěn yàng hǎo jiù qù xíng ba !」 jì sī shuō :「 wǒ men xiān dāng qīn jìn shén 。」

Đoạn, Sau-lơ nói: Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo dân Phi-li-tin trong khi ban đêm, cướp phá chúng nó cho đến sáng sớm, và chớ để sống một ai. Chúng thưa rằng: Hãy làm mọi điều vua lấy làm phải. Thầy tế lễ bèn nói: Chúng ta hãy đến gần Đức Chúa Trời.

:「?」

sǎo luó qiú wèn shén shuō :「 wǒ xià qù zhuī gǎn fēi lì shì rén kě yǐ bù kě yǐ ? nǐ jiāng tā men jiāo zài yǐ sè liè rén shǒu lǐ bù jiāo ?」 zhè rì shén méi yǒu huí dá tā 。

Sau-lơ cầu vấn Đức Chúa Trời rằng: Tôi phải nên xuống đuổi theo dân Phi-li-tin chăng? Ngài sẽ phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên chăng? Song lần nầy Đức Chúa Trời chẳng đáp lại lời gì hết.

:「

sǎo luó shuō :「 nǐ men bǎi xìng zhōng de zhǎng lǎo dōu shàng zhè lǐ lái , chá míng jīn rì shì shuí fàn le zuì 。

Đoạn, Sau-lơ bảo rằng: Hỡi các quan trưởng của dân sự, hết thảy hãy đến gần đây, xét tìm tội lỗi đã phạm trong ngày nay là sao.

。」

wǒ zhǐ zhe jiù yǐ sè liè — yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , jiù shì wǒ ér zǐ yuē ná dān fàn le zuì , tā yě bì sǐ 。」 dàn bǎi xìng zhōng wú yì rén huí dá tā 。

Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, mà thề rằng kẻ đã phạm tội, dẫu chính là Giô-na-than, con trai ta, cũng phải chết đi! Trong cả dân sự chẳng có ai đáp lời người.

:「。」:「!」

sǎo luó jiù duì yǐ sè liè zhòng rén shuō :「 nǐ men zhàn zài yì biān , wǒ yǔ wǒ ér zi yuē ná dān yě zhàn zài yì biān 。」 bǎi xìng duì sǎo luó shuō :「 nǐ kàn zěn yàng hǎo jiù qù xíng ba !」

Người bèn nói cùng cả Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đứng bên này; ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia. Dân sự thưa rằng: Hãy làm điều vua lấy làm phải.

:「。」

sǎo luó dǎo gào yē hé huá — yǐ sè liè de shén shuō :「 qiú nǐ zhǐ shì shí qíng 。」 yú shì chè qiān chè chū sǎo luó hé yuē ná dān lái ; bǎi xìng jìn dōu wú shì 。

Sau-lơ thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Oâi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy tỏ ra sự thật. Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân sự thì vô can.

:「」,

sǎo luó shuō :「 nǐ men zài chè qiān , kàn shì wǒ , shì wǒ ér zi yuē ná dān 」, jiù chè chū yuē ná dān lái 。

Sau-lơ nói: Hãy bắt thăm cho ta và Giô-na-than, con trai ta.

:「?」:「 ?」

sǎo luó duì yuē ná dān shuō :「 nǐ gào sù wǒ , nǐ zuò le shén me shì ?」 yuē ná dān shuō :「 wǒ shí zài yǐ shǒu lǐ de zhàng , yòng zhàng tóu zhàn le yì diǎn mì cháng le yì cháng 。 zhè yàng wǒ jiù sǐ ma ?」

Giô-na-than bị chỉ ra. Sau-lơ nói cùng Giô-na-than rằng: Hãy tỏ cho ta biết điều ngươi đã làm. Giô-na-than thú thật rằng: Tôi có dùng đầu gậy tôi cầm nơi tay mà nếm chút mật ong; nầy tôi đây phải chết.

:「 。」

sǎo luó shuō :「 yuē ná dān nǎ , nǐ dìng yào sǐ ! ruò bù rán , yuàn shén chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ 。」

Sau-lơ nói: Hỡi Giô-na-than, nếu ngươi không chết, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa rất nặng trên ta!

:「使 。」

bǎi xìng duì sǎo luó shuō :「 yuē ná dān zài yǐ sè liè rén zhōng zhè yàng dà xíng zhěng jiù , qǐ kě shǐ tā sǐ ne ? duàn hū bù kě ! wǒ men zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , lián tā de yì gēn tóu fa yě bù kě luò dì , yīn wèi tā jīn rì yǔ shén yì tóng zuò shì 。」 yú shì bǎi xìng jiù yuē ná dān miǎn le sǐ wáng 。

Nhưng dân sự đáp cùng Sau-lơ rằng: Uûa! Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên được đại thắng dường kia, phải chết sao? Điều đó chẳng nên! Chúng tôi chỉ sanh mạng của Đức Giê-hô-va mà thề rằng một sợi tóc trên đầu người sẽ chẳng rụng xuống đất; vì người ở cùng Đức Chúa Trời mà được thắng ngày nay. Như vậy, dân sự giải cứu Giô-na-than, và người khỏi bị xử tử.

sǎo luó huí qù , bù zhuī gǎn fēi lì shì rén ; fēi lì shì rén yě huí běn dì qù le 。

Đoạn, Sau-lơ trở về, chẳng đuổi theo dân Phi-li-tin nữa; và dân Phi-li-tin đều trở về trong xứ mình.

sǎo luó zhí zhǎng yǐ sè liè de guó quán , cháng cháng gōng jī tā sì wéi de yí qiè chóu dí , jiù shì mó yā rén 、 yà mén rén 、 yǐ dōng rén , hé suǒ bā zhū wáng , bìng fēi lì shì rén 。 tā wú lùn wǎng hé chù qù , dōu dǎ bài chóu dí 。

Sau khi Sau-lơ đã cầm quyền nước Y-sơ-ra-ên, thì người giao chiến cùng kẻ thù nghịch mình tứ phía, tức cùng Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, các vua Xô-ba, và cùng dân Phi-li-tin; hễ người cử binh đến đâu, thì báo thù được đến đó.

sǎo luó fèn yǒng gōng jī yà mǎ lì rén , jiù le yǐ sè liè rén tuō lí qiǎng lüè tā men zhī rén de shǒu 。

Người tụ tập quân lính, đánh dân A-ma-léc, và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp phá họ.

sǎo luó de ér zi shì yuē ná dān 、 yì shī wéi 、 mài jī shū yà 。 tā de liǎng gè nǚ ér : cháng nǚ míng mǐ lā , cì nǚ míng mǐ jiǎ 。

Các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua, người cũng có hai con gái; lớn, tên là Mê-ráp; nhỏ, tên là Mi-canh;

sǎo luó de qī míng jiào yà xī nuǎn , shì yà xī mǎ sī de nǚ ér 。 sǎo luó de yuán shuài míng jiào yā ní ěr , shì ní ěr de ér zi ; ní ěr shì sǎo luó de shū shu 。

vợ của Sau-lơ tên là A-hi-nô-am, con gái của A-hi-mát. Tổng binh của đạo binh người là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, chú của Sau-lơ,

sǎo luó de fù qīn jī shì , yā ní ěr de fù qīn ní ěr , dōu shì yà bié de ér zi 。

Kích, cha của Sau-lơ và Nê-rơ, cha của Aùp-ne, là con trai của A-bi-ên.

sǎo luó píng shēng cháng yǔ fēi lì shì rén dà dà zhēng zhàn 。 sǎo luó yù jiàn yǒu néng lì de rén huò yǒng shì , dōu zhāo mù le lái gēn suí tā 。

Trọn đời Sau-lơ có sự tranh chiến dữ dội cùng dân Phi-li-tin; hễ khi Sau-lơ thấy người mạnh mẽ và bạo dạn, thì chiêu mộ người theo mình.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.