中文圣经

I SA-MU-ÊN 26

đã biết 0/268

西:「?」

xī fú rén dào jī bǐ yà jiàn sǎo luó , shuō :「 dà wèi bú shì zài kuàng yě qián de hā jī lā shān cáng zhe ma ?」

Dân Xíp lại đến tìm Sau-lơ tại Ghi-bê-a, mà nói rằng: Đa-vít há chẳng ẩn tại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng sao?

西

sǎo luó jiù qǐ shēn , dài lǐng yǐ sè liè rén zhōng tiāo xuǎn de sān qiān jīng bīng xià dào xī fú de kuàng yě , yào zài nà lǐ xún suǒ dà wèi 。

Sau-lơ bèn chổi dậy kéo ba ngàn tinh binh của Y-sơ-ra-ên, đi xuống đồng vắng Xíp đặng tìm Đa-vít.

sǎo luó zài kuàng yě qián de hā jī lā shān , zài dào lù shang ān yíng 。 dà wèi zhù zài kuàng yě , tīng shuō sǎo luó dào kuàng yě lái zhuī xún tā ,

Sau-lơ đóng trại trên gò Ha-ki-la, đối ngang đồng vắng, tại nơi đầu đường. Đa-vít ở trong đồng vắng. Khi thấy Sau-lơ đến đuổi theo mình,

便

jiù dǎ fā rén qù tàn tīng , biàn zhī dào sǎo luó guǒ rán lái dào 。

bèn sai kẻ do thám đi, và biết chắc rằng Sau-lơ đã đến.

dà wèi qǐ lái , dào sǎo luó ān yíng de dì fāng , kàn jiàn sǎo luó hé tā de yuán shuài ní ěr de ér zi yā ní ěr shuì wò zhī chù ; sǎo luó shuì zài zī zhòng yíng lǐ , bǎi xìng ān yíng zài tā zhōu wéi 。

Bấy giờ, Đa-vít chổi dậy, đi đến tận nơi Sau-lơ hạ trại; người cũng thấy nơi ngủ của Sau-lơ và của Aùp-ne, con trai Nê-rơ, là quan tổng binh của người. Sau-lơ ngủ tại đồn, có đạo binh đóng trại xung quanh mình.

:「?」:「。」

dà wèi duì hè rén yà xī mǐ lè hé xǐ lǔ yǎ de ér zi yuē yā de xiōng dì yà bǐ shāi shuō :「 shuí tóng wǒ xià dào sǎo luó yíng lǐ qù ?」 yà bǐ shāi shuō :「 wǒ tóng nǐ xià qù 。」

Đa-vít cất tiếng nói cùng A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, em của Giô-áp, rằng: Ai muốn đi cùng ta xuống dinh Sau-lơ? A-bi-sai đáp: Tôi sẽ đi xuống với ông.

yú shì dà wèi hé yà bǐ shāi yè jiān dào le bǎi xìng nà lǐ , jiàn sǎo luó shuì zài zī zhòng yíng lǐ ; tā de qiāng zài tóu páng , chā zài dì shàng 。 yā ní ěr hé bǎi xìng shuì zài tā zhōu wéi 。

Vậy, Đa-vít và A-bi-sai lúc ban đêm, vào giữa quân lính, thấy Sau-lơ đang ngủ, nằm trong đồn, cây giáo cặm dưới đất tại nơi đầu giường. Aùp-ne và quân lính nằm ở xung quanh người.

:「 。」

yà bǐ shāi duì dà wèi shuō :「 xiàn zài shén jiāng nǐ de chóu dí jiāo zài nǐ shǒu lǐ , qiú nǐ róng wǒ ná qiāng jiāng tā cì tòu zài dì , yí cì jiù chéng , bú yòng zài cì 。」

A-bi-sai nói cùng Đa-vít rằng: Ngày nay Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù nghịch ông vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm người chỉ một cái mà cặm người xuống đất; chẳng cần phải đâm lại.

:「?」

dà wèi duì yà bǐ shāi shuō :「 bù kě hài sǐ tā 。 yǒu shuí shēn shǒu hài yē hé huá de shòu gāo zhě ér wú zuì ne ?」

Nhưng Đa-vít bảo A-bi-sai rằng: Đừng giết người; ai có thế tra tay trên kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị phạt?

:「

dà wèi yòu shuō :「 wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , tā huò bèi yē hé huá jī dǎ , huò shì sǐ qī dào le , huò shì chū zhàn zhèn wáng ;

Người tiếp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, Đức Giê-hô-va chắc sẽ đánh người, hoặc khi người đến k” định mà chết, hoặc khi người ra trận mà bị diệt vong.

。」

wǒ zài yē hé huá miàn qián , wàn bù gǎn shēn shǒu hài yē hé huá de shòu gāo zhě 。 xiàn zài nǐ kě yǐ jiāng tā tóu páng de qiāng hé shuǐ píng ná lái , wǒ men jiù zǒu 。」

Nguyện Đức Giê-hô-va giữ, chớ cho tôi tra tay vào kẻ chịu xức dầu của Ngài! Ta xin ngươi chỉ hãy lấy cây giáo nơi đầu giường người cùng cái bình nước, rồi chúng ta hãy đi.

使

dà wèi cóng sǎo luó de tóu páng ná le qiāng hé shuǐ píng , èr rén jiù zǒu le , méi yǒu rén kàn jiàn , méi yǒu rén zhī dào , yě méi yǒu rén xǐng qǐ , dōu shuì zháo le , yīn wèi yē hé huá shǐ tā men chén chén dì shuì le 。

Như vậy, Đa-vít lấy cây giáo và bình nước nơi đầu giường của Sau-lơ, rồi hai người đi. Không ai thấy hay là biết, và cũng chẳng ai tỉnh thức; hết thảy đều ngủ, vì Đức Giê-hô-va đã khiến sự ngủ mê giáng trên chúng nó.

dà wèi guò dào nà biān qù , yuǎn yuǎn dì zhàn zài shān dǐng shàng , yǔ tā men xiāng lí shèn yuǎn 。

Đoạn, Đa-vít sang qua bên kia, dừng lại tại trên chót núi, xa trại quân. có một khoảng xa cách nhau.

:「?」:「?」

dà wèi hū jiào bǎi xìng hé ní ěr de ér zi yā ní ěr shuō :「 yā ní ěr a , nǐ wèi hé bù dā ying ne ?」 yā ní ěr shuō :「 nǐ shì shuí ? jìng gǎn hū jiào wáng ne ?」

Người gọi quân lính với Aùp-ne, con trai Nê-rơ mà nói rằng: Aùp-ne, người chẳng đáp lời sao? Aùp-ne đáp rằng: Ngươi là ai mà kêu la cùng vua?

:「

dà wèi duì yā ní ěr shuō :「 nǐ bú shì gè yǒng shì ma ? yǐ sè liè zhōng shuí néng bǐ nǐ ne ? mín zhōng yǒu rén jìn lái yào hài sǐ wáng — nǐ de zhǔ , nǐ wèi hé méi yǒu bǎo hù wáng — nǐ de zhǔ ne ?

Đa-vít đáp cùng Aùp-ne rằng: Nào, ngươi há chẳng phải là một dõng sĩ sao? Trong Y-sơ-ra-ên ai bằng ngươi? Vậy, sao ngươi không canh giữ vua, là chúa của ngươi? Có kẻ trong dân sự đã đến muốn giết vua chúa ngươi.

。」

nǐ zhè yàng shì bù hǎo de ! wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , nǐ men dōu shì gāi sǐ de ; yīn wèi méi yǒu bǎo hù nǐ men de zhǔ , jiù shì yē hé huá de shòu gāo zhě 。 xiàn zài nǐ kàn kàn wáng tóu páng de qiāng hé shuǐ píng zài nǎ lǐ 。」

Điều ngươi đã làm đó chẳng tốt đâu. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ngươi đáng chết, vì không canh giữ chúa ngươi, là đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ, hãy xem thử, cây giáo của vua và bình nước nơi đầu giường vua ở đâu?

:「?」:「」;

sǎo luó tīng chū shì dà wèi de shēng yīn , jiù shuō :「 wǒ ér dà wèi , zhè shì nǐ de shēng yīn ma ?」 dà wèi shuō :「 zhǔ — wǒ de wáng a , shì wǒ de shēng yīn 」;

Sau-lơ nhận biết tiếng của Đa-vít, bèn nói rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, có phải tiếng con chăng? Đa-vít thưa rằng: Hỡi vua chúa tôi, ấy là tiếng tôi.

:「

yòu shuō :「 wǒ zuò le shén me ? wǒ shǒu lǐ yǒu shén me è shì ? wǒ zhǔ jìng zhuī gǎn pú rén ne ?

Người tiếp: Cớ sao chúa đuổi theo tôi tớ chúa như vậy? Tôi có làm điều gì, và tay tôi đã phạm tội ác chi?

:『!』

qiú wǒ zhǔ wǒ wáng tīng pú rén de huà : ruò shì yē hé huá jī fā nǐ gōng jī wǒ , yuàn yē hé huá shōu nà jì wù ; ruò shì rén jī fā nǐ , yuàn tā zài yē hé huá miàn qián shòu zhòu zǔ ; yīn wèi tā xiàn jīn gǎn zhú wǒ , bù róng wǒ zài yē hé huá de chǎn yè shàng yǒu fēn , shuō :『 nǐ qù shì fèng bié shén ba !』

Bây giờ, xin vua hãy lắng nghe lời của tôi tớ vua. Nếu Đức Giê-hô-va xui giục vua hại tôi, nguyện Ngài nhậm mùi thơm của lễ, nhưng nếu là loài người, nguyện chúng bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va; vì ngày nay chúng đuổi tôi đi khỏi chỗ dành cho tôi trong sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, và chúng nói rằng: Hãy đi, thờ tà thần.

使。」

xiàn zài qiú wáng bú yào shǐ wǒ de xuè liú zài lí yē hé huá yuǎn de dì fāng 。 yǐ sè liè wáng chū lái shì xún zhǎo yí gè gè zǎo , rú tóng rén zài shān shàng liè qǔ yí gè zhè gū yì bān 。」

Oâi! nguyện huyết tôi chớ chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va; vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo ra đặng tìm một con bọ chét, như người ta đuổi theo chim đa đa trong núi vậy.

:「。」

sǎo luó shuō :「 wǒ yǒu zuì le ! wǒ ér dà wèi , nǐ kě yǐ huí lái , yīn nǐ jīn rì kàn wǒ de xìng mìng wèi bǎo guì ; wǒ bì bú zài jiā hài yú nǐ 。 wǒ shì hú tú rén , dà dà cuò le 。」

Bấy giờ, Sau-lơ nói: Ta có phạm tội; hỡi Đa-vít, con ta, hãy trở lại! Ta sẽ chẳng làm hại cho con nữa, vì ngày nay, con đã kính nể mạng sống ta. Thật, ta đã làm điên cuồng, phạm một lỗi rất trọng.

:「

dà wèi shuō :「 wáng de qiāng zài zhè lǐ , kě yǐ fēn fù yí gè pú rén guò lái ná qù 。

Đa-vít nói: Nầy là cây giáo của vua; hãy cho một gã trai trẻ của vua đi qua đây mà lấy đi.

jīn rì yē hé huá jiāng wáng jiāo zài wǒ shǒu lǐ , wǒ què bù kěn shēn shǒu hài yē hé huá de shòu gāo zhě 。 yē hé huá bì zhào gè rén de gōng yì chéng shí bào yìng tā 。

Đức Giê-hô-va sẽ báo trả cho mọi người tùy theo sự công bình và trung tín của người; vì ngày nay Ngài đã phó vua vào tay tôi, mà tôi không khứng tra tay vào đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va.

。」

wǒ jīn rì zhòng kàn nǐ de xìng mìng , yuàn yē hé huá yě zhòng kàn wǒ de xìng mìng , bìng qiě zhěng jiù wǒ tuō lí yí qiè huàn nàn 。」

Ngày nay, tôi lấy mạng sống vua làm quí trọng thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy mạng sống tôi làm quí trọng thể ấy, và giải cứu tôi khỏi các hoạn nạn.

:「。」

sǎo luó duì dà wèi shuō :「 wǒ ér dà wèi , yuàn nǐ dé fú ! nǐ bì zuò dà shì , yě bì dé shèng 。」 yú shì dà wèi qǐ xíng , sǎo luó huí tā de běn chù qù le 。

Sau-lơ nói cùng Đa-vít rằng: Hỡi Đa-vít, con ta, nguyện con được phước! Quả thật, con sẽ làm công việc lớn lao và được thắng hơn. Đoạn, Đa-vít cứ đi lối mình, còn Sau-lơ trở về nơi người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.