中文圣经

I SA-MU-ÊN 25

đã biết 0/417

sā mǔ ěr sǐ le , yǐ sè liè zhòng rén jù jí , wèi tā āi kū , jiāng tā zàng zài lā mǎ — tā zì jǐ de fén mù lǐ 。 dà wèi hé yà bǐ gāi dà wèi qǐ shēn , xià dào bā lán de kuàng yě 。

Kế ấy, Sa-mu-ên qua đời; cả Y-sơ-ra-ên nhóm lại đặng than khóc người; rồi chôn người trong nhà người tại Ra-ma. Đa-vít bèn đứng dậy, đi xuống đồng vắng Pha-ran.

zài mǎ yún yǒu yí gè rén , tā de chǎn yè zài jiā mì , shì yí gè dà fù hù , yǒu sān qiān mián yáng , yì qiān shān yáng ; tā zhèng zài jiā mì jiǎn yáng máo 。

Vả, có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp nó thì ở Cạt-mên. Người rất giàu, có ba ngàn chiên, và một ngàn dê; người đang ở Cạt-mên đặng hớt lông chiên mình.

nà rén míng jiào ná bā , shì jiā lè zú de rén ; tā de qī míng jiào yà bǐ gāi , shì cōng ming jùn měi de fù rén 。 ná bā wèi rén gāng bì xiōng è 。

Người nầy tên là Na-banh, và vợ là A-bi-ga-in; vợ thì thông minh tốt đẹp, còn chồng thì cứng cỏi hung ác, thuộc về dòng Ca-lép.

dà wèi zài kuàng yě tīng jiàn shuō ná bā jiǎn yáng máo ,

Đa-vít ở trong rừng hay rằng Na-banh hớt lông chiên,

:「

dà wèi jiù dǎ fā shí gè pú rén , fēn fù tā men shuō :「 nǐ men shàng jiā mì qù jiàn ná bā , tí wǒ de míng wèn tā ān 。

bèn sai mười gã trai trẻ đi mà dặn rằng: Hãy đi lên Cạt-mên, tìm Na-banh, nhân danh ta chào người,

:『

yào duì nà fù hù rú cǐ shuō :『 yuàn nǐ píng ān , yuàn nǐ jiā píng ān , yuàn nǐ yí qiè suǒ yǒu de dōu píng ān 。

và nói rằng: Nguyện ông được bình yên, nguyện nhà ông cũng được bình yên; phàm vật gì thuộc về ông đều được bình yên!

xiàn zài wǒ tīng shuō yǒu rén wéi nǐ jiǎn yáng máo , nǐ de mù rén zài jiā mì de shí hòu hé wǒ men zài yí chù , wǒ men méi yǒu qī fù tā men , tā men yě wèi céng shī luò shén me 。

Và bây giờ, tôi có hay rằng ông có những thợ hớt lông chiên. Trong lúc các kẻ chăn chiên ông ở gần chúng tôi, chúng tôi chẳng hề khuấy khuất chúng nó; và trọn hồi chúng nó ở tại Cạt-mên, chẳng có thiếu mất gì hết.

。』」

kě yǐ wèn nǐ de pú rén , tā men bì gào sù nǐ 。 suǒ yǐ yuàn wǒ de pú rén zài nǐ yǎn qián méng ēn , yīn wèi shì zài hǎo rì zi lái de 。 qiú nǐ suí shǒu qǔ diǎn cì yǔ pú rén hé nǐ ér zi dà wèi 。』」

Hãy hỏi tôi tớ ông về điều đó, chúng nó sẽ nói cùng ông. Vậy, xin các gã trai trẻ được ơn trước mặt ông, vì chúng tôi đến trong ngày tốt lành; hễ tay ông tìm thấy vật gì, hãy ban cho các tôi tớ ông, và cho con ông là Đa-vít.

dà wèi de pú rén dào le , jiāng zhè huà tí dà wèi de míng dōu gào sù le ná bā , jiù zhù le kǒu 。

Vậy, các gã trai trẻ của Đa-vít đi đến nhân danh Đa-vít lặp lại cho Na-banh mọi lời ấy; đoạn nín lặng;

:「西

ná bā huí dá dà wèi de pú rén shuō :「 dà wèi shì shuí ? yē xī de ér zi shì shuí ? jìn lái bèi nì zhǔ rén bēn táo de pú rén shèn duō ,

Nhưng Na-banh đáp cùng các tôi tớ Đa-vít rằng: Ai là Đa-vít? Ai là con trai của Y-sai? Những tôi tớ trốn khỏi chủ mình, ngày nay lấy làm đông thay!

?」

wǒ qǐ kě jiāng yǐn shí hé wèi wǒ jiǎn yáng máo rén suǒ zǎi de ròu gěi wǒ bù zhī dào cóng nǎ lǐ lái de rén ne ?」

Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước, và thịt ta dọn sẵn cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết ở đâu đến sao?

dà wèi de pú rén jiù zhuǎn shēn cóng yuán lù huí qù , zhào zhè huà gào sù dà wèi 。

Những gã trai trẻ của Đa-vít thối đường trở về. Đến nơi, chúng nó thuật lại các lời ấy cho Đa-vít nghe.

:「!」

dà wèi xiàng gēn suí tā de rén shuō :「 nǐ men gè rén dōu yào dài shàng dāo !」 zhòng rén jiù dōu dài shàng dāo , dà wèi yě dài shàng dāo 。 gēn suí dà wèi shàng qù de yuē yǒu sì bǎi rén , liú xià èr bǎi rén kān shǒu qì jù 。

Đa-vít bèn nói cùng các người theo mình rằng: Mỗi người trong chúng ta hãy đeo gươm mình. Chúng đeo gươm mình, và Đa-vít cũng đeo gươm của người. Ước chừng bốn trăm người đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người ở lại giữ đồ vật.

:「使

yǒu ná bā de yí gè pú rén gào sù ná bā de qī yà bǐ gāi shuō :「 dà wèi cóng kuàng yě dǎ fā shǐ zhě lái wèn wǒ zhǔ rén de ān , zhǔ rén què rǔ mà tā men 。

Có một đứa đầy tớ báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh, rằng: Đa-vít có sai những sứ giả từ đồng vắng đến chào chủ chúng tôi, nhưng Na-banh ở gắt gỏng cùng họ.

dàn shì nà xiē rén dài wǒ men shèn hǎo ; wǒ men zài tián yě yǔ tā men lái wǎng de shí hòu , méi yǒu shòu tā men de qī fù , yě wèi céng shī luò shén me 。

Song trọn lúc chúng tôi ở gần những người ấy tại trong đồng, thì họ rất tử tế cùng chúng tôi, chúng tôi không bị khuấy khuất, và chẳng thiếu mất vật chi hết.

wǒ men zài tā men nà lǐ mù yáng de shí hòu , tā men zhòu yè zuò wǒ men de bǎo zhàng 。

Bao lâu chúng tôi ở gần các người đó, lo chăn bầy chiên chúng tôi, thì ngày và đêm họ dường như tường che cho chúng tôi.

。」

suǒ yǐ nǐ dāng chóu huà , kàn zěn yàng xíng cái hǎo ; bù rán , huò huàn dìng yào lín dào wǒ zhǔ rén hé tā quán jiā 。 tā xìng qíng xiōng bào , wú rén gǎn yǔ tā shuō huà 。」

Vậy bây giờ, khá xem xét điều bà phải làm; vì đã định giáng tai họa trên chủ chúng tôi và trên cả nhà người; chủ dữ quá, không có ai nói cùng người được.

yà bǐ gāi jí máng jiāng èr bǎi bǐng , liǎng pí dài jiǔ , wǔ zhī shōu shí hǎo le de yáng , wǔ xì yà hōng hǎo le de suì zǐ , yì bǎi pú táo bǐng , èr bǎi wú huā guǒ bǐng , dōu tuó zài lǘ shàng ,

A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu da rượu nho, năm con chiên đực nấu chín, năm đấu hột rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả khô, chất trên lưng lừa.

:「。」

duì pú rén shuō :「 nǐ men qián tou zǒu , wǒ suí zhe nǐ men qù 。」 zhè shì tā què méi yǒu gào sù zhàng fu ná bā 。

Đoạn, người nói cùng các tôi tớ rằng: Hãy đi trước ta, ta sẽ đi theo các ngươi. Nhưng nàng không nói chi hết cùng Na-banh, chồng mình.

yà bǐ gāi qí zhe lǘ , zhèng xià shān pō , jiàn dà wèi hé gēn suí tā de rén cóng duì miàn xià lái , yà bǐ gāi jiù yíng jiē tā men 。

Nàng cỡi lừa đi xuống theo một con đường có núi bao phủ, thì Đa-vít và những kẻ theo người cũng đi xuống đụng mặt nàng; nàng bèn gặp các người đó.

:「

dà wèi céng shuō :「 wǒ zài kuàng yě wèi nà rén kān shǒu suǒ yǒu de , yǐ zhì tā yí yàng bù shī luò , shí zài shì tú rán le ! tā xiàng wǒ yǐ è bào shàn 。

Vả, Đa-vít có nói rằng: Vậy, thật lấy làm luống công cho ta đã gìn giữ mọi vật của người nầy có trong đồng vắng, đến đỗi chẳng thiếu mất gì hết. Còn hắn lại lấy oán trả ơn.

!」

fán shǔ ná bā de nán dīng , wǒ ruò liú yí gè dào míng rì zǎo chén , yuàn shén chóng chóng jiàng fá yǔ wǒ !」

Nguyện Đức Chúa Trời xử kẻ thù nghịch của Đa-vít thật cho nặng nề! Từ đây đến mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh, ta sẽ chẳng để còn lại vật nhỏ hơn hết.

便

yà bǐ gāi jiàn dà wèi , biàn jí máng xià lǘ , zài dà wèi miàn qián liǎn fú yú dì kòu bài ,

Khi a-bi-ga-in thấy Đa-vít, liền lật đật xuống lừa mình, và sấp mình xuống đất tại trước mặt Đa-vít mà lạy.

:「

fǔ fú zài dà wèi de jiǎo qián , shuō :「 wǒ zhǔ a , yuàn zhè zuì guī wǒ ! qiú nǐ róng bì nǚ xiàng nǐ jìn yán , gèng qiú nǐ tīng bì nǚ de huà 。

Vậy, nàng phục dưới chân người mà nói rằng: Lạy chúa, lỗi về tôi, về tôi! Xin cho phép con đòi ông nói trước mặt ông; xin hãy nghe các lời của con đòi ông.

wǒ zhǔ bú yào lǐ zhè huài rén ná bā , tā de xìng qíng yǔ tā de míng xiāng chèn ; tā míng jiào ná bā , tā wèi rén guǒ rán yú wán 。 dàn wǒ zhǔ suǒ dǎ fā de pú rén , bì nǚ bìng méi yǒu kàn jiàn 。

Xin chúa chớ kể đến người hung ác kia, là Na-banh; vì tánh hắn thật hiệp với nghĩa tên hắn: tên hắn là Na-banh, và nơi hắn có sự điên dại. Còn tôi, là con đòi chúa, chẳng có thấy những người chúa đã sai đến.

:『。』

wǒ zhǔ a , yē hé huá jì rán zǔ zhǐ nǐ qīn shǒu bào chóu , qǔ liú xuè de zuì , suǒ yǐ wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá 、 yòu gǎn zài nǐ miàn qián qǐ shì shuō :『 yuàn nǐ de chóu dí hé móu hài nǐ de rén dōu xiàng ná bā yī yàng 。』

Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã ngăn chúa đến làm đổ huyết ra, và lấy chính tay mình mà báo thù; tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của chúa mà thề: nguyện các thù nghịch chúa và kẻ tìm hại chúa đều như Na-banh!

rú jīn qiú nǐ jiāng bì nǚ sòng lái de lǐ wù gěi gēn suí nǐ de pú rén 。

Và bây giờ, nầy là lễ vật mà con đòi chúa đem đến dâng cho chúa, để phát cho các người đi theo sau.

qiú nǐ ráo shù bì nǚ de zuì guo 。 yē hé huá bì wèi wǒ zhǔ jiàn lì jiān gù de jiā , yīn wǒ zhǔ wèi yē hé huá zhēng zhàn ; bìng qiě zài nǐ píng shēng de rì zi chá bù chū yǒu shén me guò lái 。

Xin hãy tha lỗi cho con đòi chúa! Đức Giê-hô-va quả hẳn sẽ lập nhà chúa được bền lâu, vì chúa đánh giặc cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời chúa sẽ chẳng tìm thấy một sự ác nơi chúa.

suī yǒu rén qǐ lái zhuī bī nǐ , xún suǒ nǐ de xìng mìng , nǐ de xìng mìng què zài yē hé huá — nǐ de shén nà lǐ méng bǎo hù , rú bāo guǒ bǎo qì yí yàng ; nǐ chóu dí de xìng mìng , yē hé huá bì pāo qù , rú yòng jī xián shuǎi shí yí yàng 。

Nếu có ai dấy lên đặng bắt bớ và hại mạng sống chúa, thì Giê-hô-va đức Chúa Trời của chúa sẽ gìn giữ mạng sống của chúa trong bọc những người sống; còn mạng sống của kẻ thù nghịch chúa, Đức Giê-hô-va sẽ ném ra xa như khỏi trành ném đá vậy.

。」

wǒ zhǔ xiàn zài ruò bù qīn shǒu bào chóu liú wú gū rén de xuè , dào le yē hé huá zhào suǒ yīng xǔ nǐ de huà cì fú yǔ nǐ , lì nǐ zuò yǐ sè liè de wáng , nà shí wǒ zhǔ bì bú zhì xīn lǐ bù ān , jué de liáng xīn yǒu kuī 。 yē hé huá cì fú yǔ wǒ zhǔ de shí hòu , qiú nǐ jì niàn bì nǚ 。」

Khi đức Giê-hô-va đã làm cho chúa tôi mọi sự lành mà Ngài đã hứa, và khi Ngài đã lập người làm đầu Y-sơ-ra-ên,

thì ước gì chúa tôi không phàn nàn và không bị lòng cắn rức vì đã vô cớ làm đổ máu ra và báo thù cho mình! Lại khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, nguyện chúa nhớ đến con đòi của chúa!

:「 使

dà wèi duì yà bǐ gāi shuō :「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén shì yīng dāng chēng sòng de , yīn wèi tā jīn rì shǐ nǐ lái yíng jiē wǒ 。

Đa-vít đáp cùng A-bi-ga-in rằng: Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì đã sai ngươi đến đón ta ngày nay!

nǐ hé nǐ de jiàn shí yě dāng chēng zàn ; yīn wèi nǐ jīn rì lán zǔ wǒ qīn shǒu bào chóu 、 liú rén de xuè 。

Đáng khen sự khôn ngoan ngươi và chúc phước cho ngươi, vì ngày nay đã cản ta đến làm đổ huyết và ngăn ta dùng chính tay mình mà báo thù cho mình.

。」

wǒ zhǐ zhe zǔ zhǐ wǒ jiā hài yú nǐ de yē hé huá — yǐ sè liè yǒng shēng de shén qǐ shì , nǐ ruò bú sù sù dì lái yíng jiē wǒ , dào míng rì zǎo chén , fán shǔ ná bā de nán dīng bì dìng bù liú yí gè 。」

Nhưng ta chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã cản ta làm điều ác, mà thề rằng, nếu nàng không vội vàng đến đón ta, thì đến sáng mai, phàm vật gì thuộc về Na-banh sẽ chẳng còn lại vật mọn hơn hết.

:「!」

dà wèi shòu le yà bǐ gāi sòng lái de lǐ wù , jiù duì tā shuō :「 wǒ tīng le nǐ de huà , zhǔn le nǐ de qíng miàn , nǐ kě yǐ píng píng ān ān dì huí jiā ba !」

Vậy, Đa-vít nhận lễ vật do nơi tay nàng đem đến cho người, và nói rằng: Hãy trở lên nhà ngươi bình an. Hãy xem, ta đã nghe theo tiếng ngươi, và tiếp ngươi tử tế.

yà bǐ gāi dào ná bā nà lǐ , jiàn tā zài jiā lǐ shè bǎi yán xí , rú tóng wáng de yán xí ; ná bā kuài lè dà zuì 。 yà bǐ gāi wú lùn dà xiǎo shì dōu méi yǒu gào sù tā , jiù děng dào cì rì zǎo chén 。

Khi A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh, thì Na-banh đang ăn tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh có lòng vui vẻ và say lắm. A-bi-ga-in không tỏ cho người biết điều gì hoặc cần kíp hay chăng, cho đến khi sáng.

dào le zǎo chén , ná bā xǐng le jiǔ , tā de qī jiāng zhè xiē shì dōu gào sù tā , tā jiù hún bú fù tǐ , shēn jiāng rú shí tou yì bān 。

Nhưng sáng mai, khi Na-banh đã giã say rồi, vợ người thuật lại hết, lòng người bèn kinh hoảng, trở thành như đá.

guò le shí tiān , yē hé huá jī dǎ ná bā , tā jiù sǐ le 。

Cách chừng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và người chết.

:「使。」

dà wèi tīng jiàn ná bā sǐ le , jiù shuō :「 yīng dāng chēng sòng yē hé huá , yīn tā shēn le ná bā xiū rǔ wǒ de yuān , yòu zǔ zhǐ pú rén xíng è ; yě shǐ ná bā de è guī dào ná bā de tóu shàng 。」 yú shì dà wèi dǎ fā rén qù , yǔ yà bǐ gāi shuō , yào qǔ tā wèi qī 。

Khi Đa-vít hay Na-banh đã chết, thì nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, vì đã xử đoán sự sỉ nhục mà tôi bị bởi Na-banh, và đã giữ tôi tớ Ngài khỏi làm điều ác! Đức Giê-hô-va đã khiến sự hung ác của Na-banh đổ lại trên đầu hắn! Đoạn, Đa-vít sai người đến hỏi A-bi-ga-in làm vợ mình.

:「。」

dà wèi de pú rén dào le jiā mì jiàn yà bǐ gāi , duì tā shuō :「 dà wèi dǎ fā wǒ men lái jiàn nǐ , xiǎng yào qǔ nǐ wèi qī 。」

Những tôi tớ Đa-vít đến tìm A-bi-ga-in, tại Cạt-mên, mà nói rằng: Đa-vít sai chúng tôi đến cùng nàng, vì người toan lấy nàng làm vợ.

:「。」

yà bǐ gāi jiù qǐ lái , fǔ fú zài dì , shuō :「 wǒ qíng yuàn zuò bì nǚ , xǐ wǒ zhǔ pú rén de jiǎo 。」

Nàng bèn chổi dậy, sấp mình xuống đất, mà nói rằng: Nầy con đòi của chúa sẽ làm tôi mọi chúa đặng rửa chân các tôi tớ của chúa tôi.

使使

yà bǐ gāi lì kè qǐ shēn , qí shàng lǘ , dài zhe wǔ gè shǐ nǚ , gēn cóng dà wèi de shǐ zhě qù le , jiù zuò le dà wèi de qī 。

Đoạn, A-bi-ga-in vụt đứng dậy, cỡi lừa mình, có năm con đòi đồng theo, mà đi với các sứ giả của Đa-vít, đặng làm vợ người.

dà wèi xiān qǔ le yē sī liè rén yà xī nuǎn , tā men èr rén dōu zuò le tā de qī 。

Đa-vít cũng có cưới A-hi-nô-am, ở Gít-rê-ên, và cả hai đều làm vợ người.

亿

sǎo luó yǐ jiāng tā de nǚ ér mǐ jiǎ , jiù shì dà wèi de qī , gěi le jiā lín rén lā yì de ér zi pà tí wèi qī 。

Vả, Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình, và là vợ của Đa-vít cho Phanh-ti, con trai của La-ít, người Ga-lim.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.