中文圣经

I SA-MU-ÊN 4

đã biết 0/251

便

yǐ sè liè rén chū qù yǔ fēi lì shì rén dǎ zhàng , ān yíng zài yǐ biàn yǐ xiè ; fēi lì shì rén ān yíng zài yà fú 。

Lời của Sa-mu-ên được rao truyền cho cả Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên ra trận đón những người Phi-li-tin, và đóng trại gần Ê-bên-Ê-xe, còn người Phi-li-tin đóng trại tại A-phéc.

fēi lì shì rén xiàng yǐ sè liè rén bǎi zhèn 。 liǎng jūn jiāo zhàn de shí hòu , yǐ sè liè rén bài zài fēi lì shì rén miàn qián ; fēi lì shì rén zài zhàn chǎng shàng shā le tā men de jūn bīng yuē yǒu sì qiān rén 。

Dân Phi-li-tin dàn trận đánh Y-sơ-ra-ên; lúc giáp trận, Y-sơ-ra-ên bị dân Phi-li-tin đánh bại và giết tại chiến trường ước bốn ngàn người.

:「使。」

bǎi xìng huí dào yíng lǐ , yǐ sè liè de zhǎng lǎo shuō :「 yē hé huá jīn rì wèi hé shǐ wǒ men bài zài fēi lì shì rén miàn qián ne ? wǒ men bù rú jiāng yē hé huá de yuē guì cóng shì luó tái dào wǒ men zhè lǐ lái , hǎo zài wǒ men zhōng jiān jiù wǒ men tuō lí dí rén de shǒu 。」

Khi dân sự đã trở về trại quân, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên nói rằng: Cớ sao ngày nay Đức Giê-hô-va để cho dân Phi-li-tin đánh bại chúng ta? Chúng ta hãy đi thỉnh hòm giao ước của Đức Giê-hô-va ở tại Si-lô; phải đem hòm đó về tại giữa chúng ta, nó ắt sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ cừu địch chúng ta!

yú shì bǎi xìng dǎ fā rén dào shì luó , cóng nà lǐ jiāng zuò zài èr jī lù bó shàng wàn jūn zhī yē hé huá de yuē guì tái lái 。 yǐ lì de liǎng gè ér zi hé fú ní 、 fēi ní hā yǔ shén de yuē guì tóng lái 。

Vậy dân sự bèn sai những sứ giả đến Si-lô, từ đó đem về hòm giao ước của Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ngự giữa các Chê-ru-bin. Hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đều đi theo hòm giao ước của Đức Chúa Trời.

便

yē hé huá de yuē guì dào le yíng zhōng , yǐ sè liè zhòng rén jiù dà shēng huān hū , dì biàn zhèn dòng 。

Khi hòm giao ước của Đức Giê-hô-va vào trại quân, cả Y-sơ-ra-ên đều reo tiếng vui mừng lớn, đến đỗi đất phải rúng động.

:「?」

fēi lì shì rén tīng jiàn huān hū de shēng yīn , jiù shuō :「 zài xī bó lái rén yíng lǐ dà shēng huān hū , shì shén me yuán gù ne ?」 suí hòu jiù zhī dào yē hé huá de yuē guì dào le yíng zhōng 。

Khi dân Phi-li-tin nghe tiếng ấy, bèn hỏi rằng: Tiếng reo mừng lớn trong trại quân Hê-bơ-rơ có nghĩa chi? Thì có người thuật cho chúng hay rằng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đã đến trong trại quân.

:「」;:「

fēi lì shì rén jiù jù pà qǐ lái , shuō :「 yǒu shén dào le tā men yíng zhōng 」; yòu shuō :「 wǒ men yǒu huò le ! xiàng lái bù céng yǒu zhè yàng de shì 。

Dân Phi-li-tin bèn sợ, vì nói rằng: Đức chúa Trời đã ngự đến trong trại quân. Rồi la rằng: Khốn nạn cho chúng ta thay! Khi trước chẳng hề có xảy ra như vậy!

wǒ men yǒu huò le ! shuí néng jiù wǒ men tuō lí zhè xiē dà néng zhī shén de shǒu ne ? cóng qián zài kuàng yě yòng gè yàng zāi yāng jī dǎ āi jí rén de , jiù shì zhè xiē shén 。

Khốn nạn cho chúng ta thay! Ai sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay các thần quyền năng dường kia? Aáy là các thần đó đã hành hại dân Ê-díp-tô đủ các thứ tai vạ tại trong đồng vắng.

。」

fēi lì shì rén nǎ , nǐ men yào gāng qiáng , yào zuò dà zhàng fu , miǎn de zuò xī bó lái rén de nú pú , rú tóng tā men zuò nǐ men de nú pú yí yàng 。 nǐ men yào zuò dà zhàng fu , yǔ tā men zhēng zhàn 。」

Hỡi người Phi-li-tin, hãy mạnh bạo, hãy nên mặt trượng phu! Kẻo các ngươi trở làm tôi mọi dân Hê-bơ-rơ, như họ đã làm tôi mọi các ngươi chăng! Khá nên mặt trượng phu và chiến đấu đi!

fēi lì shì rén hé yǐ sè liè rén dǎ zhàng , yǐ sè liè rén bài le , gè xiàng gè jiā bēn táo , bèi shā de rén shèn duō , yǐ sè liè de bù bīng pú dǎo le sān wàn 。

Vậy, dân Phi-li-tin chiến đấu, và Y-sơ-ra-ên bị bại, mỗi người chạy trốn về trại mình. Aáy là một sự bại trận lớn lắm; ba vạn lính bộ trong Y-sơ-ra-ên bị ngã chết.

shén de yuē guì bèi lǔ qù , yǐ lì de liǎng gè ér zi hé fú ní 、 fēi ní hā yě dōu bèi shā le 。

Hòm của Đức Chúa Trời bị cướp lấy, còn hai con trai Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đều chết.

便

dāng rì , yǒu yí gè biàn yǎ mǐn rén cóng zhèn shàng táo pǎo , yī fu sī liè , tóu méng huī chén , lái dào shì luó 。

Một người Bên-gia-min chạy trốn khỏi giặc, đến tại Si-lô nội ngày đó, quần áo rách ra, đầu đóng bụi cát.

dào le de shí hòu , yǐ lì zhèng zài dào páng zuò zài zì jǐ de wèi shàng guān wàng , wèi shén de yuē guì xīn lǐ dān yōu 。 nà rén jìn chéng bào xìn , hé chéng de rén jiù dōu hū hǎn qǐ lái 。

Khi người ấy đến, Hê-li đang ngồi trên ghế mình tại bên mé đường, trông đợi cách áy náy; vì lòng Hê-li run sợ về hòm của Đức Chúa trời. Người ấy vào thành báo tin đó, cả thành bèn kêu la lên.

:「?」

yǐ lì tīng jiàn hū hǎn de shēng yīn jiù wèn shuō :「 zhè xuān rǎng shì shén me yuán gù ne ?」 nà rén jí máng lái bào xìn gěi yǐ lì 。

Hê-li nghe tiếng là nầy thì nói: Sự ồn ào nầy là chi? Tức thì người đó lật đật báo tin cho Hê-li.

nà shí yǐ lì jiǔ shí bā suì le , yǎn mù fā zhí , bù néng kàn jiàn 。

Vả, Hê-li đã chín mươi tám tuổi, mắt đui, không thế thấy được.

:「。」:「?」

nà rén duì yǐ lì shuō :「 wǒ shì cóng zhèn shàng lái de , jīn rì wǒ cóng zhèn shàng táo huí 。」 yǐ lì shuō :「 wǒ ér , shì qíng zěn yàng ?」

Người đó nói cùng Hê-li rằng: Tôi là người ở chiến trường đến, ngày nay tôi được thoát khỏi cơn trận. Hê-li hỏi rằng: Hỡi con, đã xảy ra làm sao.

:「 。」

bào xìn de huí dá shuō :「 yǐ sè liè rén zài fēi lì shì rén miàn qián táo pǎo , mín zhōng bèi shā de shèn duō ! nǐ de liǎng gè ér zǐ hé fú ní 、 fēi ní hā yě dōu sǐ le , bìng qiě shén de yuē guì bèi lǔ qù 。」

Sứ giả tiếp rằng: Y-sơ-ra-ên đã chạy trốn trước mặt dân Phi-li-tin; dân sự bị đại bại. Lại, hai con trai của ông, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đã chết, và hòm của Đức Chúa trời đã bị cướp lấy.

tā yì tí shén de yuē guì , yǐ lì jiù cóng tā de wèi shàng wǎng hòu diē dǎo , zài mén páng zhé duàn jǐng xiàng ér sǐ ; yīn wèi tā nián jì lǎo mài , shēn tǐ chén zhòng 。 yǐ lì zuò yǐ sè liè dī shì shī sì shí nián 。

Người vừa nói đến hòm của Đức Chúa Trời, thì Hê-li ngã ngửa xuống khỏi ghế mình ở bên phía cửa, gãy cổ và chết, vì người đã già yếu và nặng nề. Người đã làm quan xét cho Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.

怀

yǐ lì de ér fù 、 fēi ní hā de qī huái yùn jiāng dào chǎn qī , tā tīng jiàn shén de yuē guì bèi lǔ qù , gōng gong hé zhàng fu dōu sǐ le , jiù měng rán téng tòng , qǔ shēn shēng chǎn ;

Con dâu người, là vợ của Phi-nê-a, đang có thai gần đẻ; khi nàng nghe tin về việc cướp lấy hòm của Đức Chúa Trời, cùng hay rằng ông gia và chồng mình đã chết, thì thình lình bị đau đớn, khòm xuống và đẻ.

:「。」

jiāng yào sǐ de shí hòu , páng biān zhàn zhe de fù rén men duì tā shuō :「 bú yào pà ! nǐ shēng le nán hái zi le 。」 tā què bù huí dá , yě bú fàng zài xīn shàng 。

Trong lúc nàng gần chết, các người đàn bà có mặt đó nói rằng: Chớ sợ chi, nàng đã sanh một con trai. Nhưng nàng không đáp lại, chẳng đếm xỉa chi các lời đó.

:「耀!」

tā gěi hái zi qǐ míng jiào yǐ jiā bó , shuō :「 róng yào lí kāi yǐ sè liè le !」 zhè shì yīn shén de yuē guì bèi lǔ qù , yòu yīn tā gōng gong hé zhàng fu dōu sǐ le 。

Nàng đặt tên cho đứa trẻ là Y-ca-bốt, vì nàng nói rằng: Sự vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên; nàng nói ngụ ý về sự mất hòm của Đức Chúa Trời, về sự chết của ông gia và chồng mình.

:「耀 。」

tā yòu shuō :「 róng yào lí kāi yǐ sè liè , yīn wèi shén de yuē guì bèi lǔ qù le 。」

Nàng lại tiếp: Thật, sự vinh hiển của Y-sơ-ra-ên đã mất rồi, vì hòm của Đức Chúa Trời đã bị cướp lấy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.