中文圣经

II LỊCH SỬ 7

đã biết 0/264

殿

suǒ luó mén qí dǎo yǐ bì , jiù yǒu huǒ cóng tiān shàng jiàng xià lái , shāo jìn fán jì hé bié de jì 。 yē hé huá de róng guāng chōng mǎn le diàn ;

Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời giáng xuống đốt của lễ thiêu và các hi sinh, sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy trong đền.

殿殿

yīn yē hé huá de róng guāng chōng mǎn le yē hé huá diàn , suǒ yǐ jì sī bù néng jìn diàn 。

Những thầy tế lễ chẳng vào được trong đền của Đức Giê-hô-va, vì sự vinh quang Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Ngài.

殿

nà huǒ jiàng xià 、 yē hé huá de róng guāng zài diàn shàng de shí hòu , yǐ sè liè zhòng rén kàn jiàn , jiù zài pù shí dì fǔ fú kòu bài , chēng xiè yē hé huá shuō : yē hé huá běn wèi shàn , tā de cí ài yǒng yuǎn cháng cún !

Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va giáng xuống đền, bèn sấp mặt xuống đất trên nền lót, thờ lạy Đức Giê-hô-va và cảm tạ Ngài, mà rằng: Chúa là nhân từ, vì sự thương xót của Ngài còn đến đời đời!

wáng hé zhòng mín zài yē hé huá miàn qián xiàn jì 。

Bấy giờ vua và cả dân sự dâng những của lễ tại trước mặt Đức Giê-hô-va.

殿

suǒ luó mén wáng yòng niú èr wàn èr qiān , yáng shí èr wàn xiàn jì 。 zhè yàng , wáng hé zhòng mín wèi shén de diàn xíng fèng xiàn zhī lǐ 。

Vua Sa-lô-môn dâng hai vạn hai ngàn con bò và mười hai vạn con chiên đực. Rồi vua và cả dân sự đều làm lễ khánh thành đền của Đức Chúa Trời.

。(!)

jì sī shì lì , gè gòng qí zhí ; lì wèi rén yě ná zhe yē hé huá de yuè qì , jiù shì dà wèi wáng zào chū lái 、 jiè lì wèi rén sòng zàn yē hé huá de 。( tā de cí ài yǒng yuǎn cháng cún !) jì sī zài zhòng rén miàn qián chuī hào , yǐ sè liè rén dōu zhàn lì 。

Những thầy tế lễ hầu việc theo chức phận mình; còn người Lê-vi thì cầm nhạc khí của Đức Giê-hô-va, mà vua Đa-vít đã sắm đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va, khi người cậy chúng đặng ngợi khen Ngài, bởi vì lòng nhân từ Chúa còn đến đời đời. Những thầy tế lễ thổi kèn ở trước mặt chúng, và cả Y-sơ-ra-ên đều đứng.

便殿

suǒ luó mén yīn tā suǒ zào de tóng tán róng bú xià fán jì 、 sù jì , hé zhī yóu , biàn jiāng yē hé huá diàn qián yuàn zi dāng zhōng fēn bié wèi shèng , zài nà lǐ xiàn fán jì hé píng ān jì shēng de zhī yóu 。

Sa-lô-môn biệt riêng ra thánh chỗ ở chính giữa hành làng trước đền Đức Giê-hô-va; vì tại đó, người dâng của lễ thiêu và mỡ về của lễ thù ân, bởi cái bàn thờ đồng mà Sa-lô-môn đã làm, không đựng hết của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ được.

nà shí suǒ luó mén hé yǐ sè liè zhòng rén , jiù shì cóng hā mǎ kǒu zhí dào āi jí xiǎo hé , suǒ yǒu de yǐ sè liè rén dōu jù jí chéng wéi dà huì , shǒu jié qī rì 。

Trong khi ấy, Sa-lô-môn và cả Y-sơ-ra-ên, đến từ miền về phía Ha-mát cho tới khe Ê-díp-tô, nhóm lại thành một hội rất đông đảo, đều dự lễ trong bảy ngày.

dì bā rì shè lì yán sù huì , xíng fèng xiàn tán de lǐ qī rì , shǒu jié qī rì 。

Qua ngày thứ tám, người ta giữ lễ trọng thể, vì họ dự lễ khánh thành bàn thờ trong bảy ngày, và mừng lễ thường trong bảy ngày.

qī yuè èr shí sān rì , wáng qiǎn sàn zhòng mín ; tā men yīn jiàn yē hé huá xiàng dà wèi hé suǒ luó mén yǔ tā mín yǐ sè liè suǒ shī de ēn huì , jiù dōu xīn zhōng xǐ lè , gè guī gè jiā qù le 。

Ngày hai mươi ba tháng bảy, người cho dân sự trở về trại mình, lòng đều vui vẻ và mừng rỡ, vì sự nhân từ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho Đa-vít, cho Sa-lô-môn, và cho Y-sơ-ra-ên, là dân sự của Ngài.

殿殿

suǒ luó mén zào chéng le yē hé huá diàn hé wáng gōng ; zài yē hé huá diàn hé wáng gōng fán tā xīn zhōng suǒ yào zuò de , dōu shùn shùn lì lì dì zuò chéng le 。

Như vậy, Sa-lô-môn làm xong đền Đức Giê-hô-va và cung vua; phàm công việc gì Sa-lô-môn rắp lòng làm trong đền Đức Giê-hô-va và trong cung vua, đều xong cả.

:「殿

yè jiān yē hé huá xiàng suǒ luó mén xiǎn xiàn , duì tā shuō :「 wǒ yǐ tīng le nǐ de dǎo gào , yě xuǎn zé zhè dì fāng zuò wéi jì sì wǒ de diàn yǔ 。

Ban đêm Đức Giê-hô-va hiện đến cùng Sa-lô-môn, mà rằng: Ta có nghe lời cầu nguyện ngươi, và đã chọn nơi này làm một nhà tế lễ.

使使使

wǒ ruò shǐ tiān bì sè bú xià yǔ , huò shǐ huáng chóng chī zhè dì de chū chǎn , huò shǐ wēn yì liú xíng zài wǒ mín zhōng ,

Nếu ta đóng các từng trời lại, không cho mưa xuống, khiến cào cào phá hại thổ sản, và giáng ôn dịch giữa dân sự ta;

zhè chēng wéi wǒ míng xià de zǐ mín , ruò shì zì bēi 、 dǎo gào , xún qiú wǒ de miàn , zhuǎn lí tā men de è xíng , wǒ bì cóng tiān shàng chuí tīng , shè miǎn tā men de zuì , yī zhì tā men de dì 。

và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ.

wǒ bì zhēng yǎn kàn 、 cè ěr tīng zài cǐ chù suǒ xiàn de dǎo gào 。

Bấy giờ, mắt ta sẽ đoái xem, lỗ tai ta sẽ lắng nghe lời nào cầu nguyện tại nơi này;

殿使

xiàn zài wǒ yǐ xuǎn zé zhè diàn , fēn bié wèi shèng , shǐ wǒ de míng yǒng zài qí zhōng , wǒ de yǎn 、 wǒ de xīn yě bì cháng zài nà lǐ 。

vì bây giờ, ta đã chọn và khiến cho cái nhà này ra thánh, hầu cho danh ta ngự đó đời đời: mắt cùng lòng ta sẽ ở đó luôn luôn.

nǐ ruò zài wǒ miàn qián xiào fǎ nǐ fù dà wèi suǒ xíng de , zūn xíng wǒ yí qiè suǒ fēn fù nǐ de , jǐn shǒu wǒ de lǜ lì diǎn zhāng ,

Còn ngươi, nếu ngươi khứng đi trước mặt ta như Đa-vít, cha ngươi đã làm, làm theo mọi điều ta phán dạy ngươi, gìn giữ luật lệ và giới mạng ta,

:『。』

wǒ jiù bì jiān gù nǐ de guó wèi , zhèng rú wǒ yǔ nǐ fù dà wèi suǒ lì de yuē , shuō :『 nǐ de zǐ sūn bì bú duàn rén zuò yǐ sè liè de wáng 。』

thì ta sẽ lập ngôi nước ngươi được bền vững, y theo lời ước ta đã kết với Đa-vít, cha ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người quản trị Y-sơ-ra-ên.

「 tǎng ruò nǐ men zhuǎn qù diū qì wǒ zhǐ shì nǐ men de lǜ lì jiè mìng , qù shì fèng jìng bài bié shén ,

Nhưng nếu các ngươi bội nghịch, bỏ các luật lệ và giới mạng ta đã đặt trước mặt các ngươi, đi hầu việc những tà thần và thờ lạy chúng nó,

殿使

wǒ jiù bì jiāng yǐ sè liè rén cóng wǒ cì gěi tā men de dì shàng bá chū gēn lái , bìng qiě wǒ wèi jǐ míng suǒ fēn bié wèi shèng de diàn yě bì shè qì bú gù , shǐ tā zài wàn mín zhōng zuò xiào tán , bèi jī qiào 。

thì ta sẽ rứt nhổ các ngươi khỏi đất ta đã ban cho các ngươi; còn cái nhà này mà ta đã biệt riêng ra thánh cho danh ta, ta sẽ bỏ nó đi, làm cho nó nên một câu tục ngữ, một việc nhạo cười giữa các dân tộc.

殿:『殿?』

zhè diàn suī rán shèn gāo , jiāng lái jīng guò de rén bì jīng yà shuō :『 yē hé huá wèi hé xiàng zhè dì hé zhè diàn rú cǐ xíng ne ?』

Cái nhà này dẫu cao dường nào, hễ ai đi qua gần nó cũng sẽ lấy làm lạ mà nói rằng: Cớ sao Đức Giê-hô-va có xử xứ này và đền này như thế?

:『 使。』」

rén bì huí dá shuō :『 shì yīn cǐ dì de rén lí qì yē hé huá — tā men liè zǔ de shén , jiù shì lǐng tā men chū āi jí dì de shén , qù qīn jìn bié shén , jìng bài shì fèng tā , suǒ yǐ yē hé huá shǐ zhè yí qiè zāi huò lín dào tā men 。』」

Thì người ta sẽ đáp rằng: Bởi vì họ lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng đã dẫn họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, và vì họ đeo đuổi theo các tà thần, thờ lạy và hầu việc chúng nó, nên Ngài đã giáng trên họ các tai vạ này.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.