中文圣经

II CÁC VUA 3

đã biết 0/310

yóu dà wáng yuē shā fǎ shí bā nián , yà hā de ér zi yuē lán zài sā mǎ lì yà dēng jī zuò le yǐ sè liè wáng shí èr nián 。

Giô-ram, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, năm thứ mười tám đời vua Giô-sa-phát vua Giu-đa, và cai trị mười hai năm.

tā xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi è de shì , dàn bú zhì xiàng tā fù mǔ suǒ xíng de , yīn wèi chú diào tā fù suǒ zào bā lì de zhù xiàng 。

Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, song không giống như cha và mẹ người; bởi vì người có trừ bỏ tượng thần Ba-anh mà cha người đã dựng lên.

使

rán ér , tā tiē jìn ní bā de ér zi yē luó bō ān shǐ yǐ sè liè rén xiàn zài zuì lǐ de nà zuì , zǒng bù lí kāi 。

Dầu vậy, người cũng ham theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, tức là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm. Người chẳng hề chịu bỏ đi.

mó yā wáng mǐ shā mù yǎng xǔ duō yáng , měi nián jiāng shí wàn yáng gāo de máo hé shí wàn gōng mián yáng de máo gěi yǐ sè liè wáng jìn gòng 。

Vả, Mê-sa, vua dân Mô-áp, nuôi nhiều bầy chiên, hằng năm người tiến cống cho vua Y-sơ-ra-ên một trăm ngàn chiên con, và trăm ngàn chiên đực chưa hớt lông.

yà hā sǐ hòu , mó yā wáng bèi pàn yǐ sè liè wáng 。

Nhưng xảy ra khi A-háp băng hà, vua Mô-áp dấy nghịch cùng vua Y-sơ-ra-ên.

nà shí yuē lán wáng chū sā mǎ lì yà , shù diǎn yǐ sè liè zhòng rén 。

Bấy giờ, vua Giô-ram đi ra khỏi Sa-ma-ri kiểm điểm cả Y-sơ-ra-ên.

:「?」:「。」

qián xíng de shí hòu , chà rén qù jiàn yóu dà wáng yuē shā fǎ , shuō :「 mó yā wáng bèi pàn wǒ , nǐ kěn tóng wǒ qù gōng dǎ mó yā ma ?」 tā shuō :「 wǒ kěn shàng qù , nǐ wǒ bù fēn bǐ cǐ , wǒ de mín yǔ nǐ de mín yí yàng , wǒ de mǎ yǔ nǐ de mǎ yí yàng 。」

Người sai báo với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: Dân Mô-áp đã phản nghịch cùng tôi. Vua có muốn đến cùng tôi giao chiến với Mô-áp chăng? Giô-sa-phát đáp rằng: Tôi sẽ đi; tôi như ông, dân sự tôi như dân sự ông, ngựa tôi như ngựa của ông.

:「?」:「。」

yuē lán shuō :「 wǒ men cóng nǎ tiáo lù shang qù ne ?」 huí dá shuō :「 cóng yǐ dōng kuàng yě de lù shang qù 。」

Người lại tiếp: Chúng ta sẽ đi lên đường nào? Giô-ram đáp: Bởi con đường của đồng vắng Ê-đôm.

yú shì , yǐ sè liè wáng hé yóu dà wáng , bìng yǐ dōng wáng , dōu yì tóng qù rào xíng qī rì de lù chéng ; jūn duì hé suǒ dài de shēng chù méi yǒu shuǐ hē 。

Aáy vậy, vua Y-sơ-ra-ên, vua Giu-đa và vua Ê-đôm đồng kéo ra, đi vòng bảy ngày đường, đoạn họ không có nước cho đạo binh và súc vật theo.

:「。」

yǐ sè liè wáng shuō :「 āi zāi ! yē hé huá zhāo jù wǒ men zhè sān wáng , nǎi yào jiāo zài mó yā rén de shǒu lǐ 。」

Vua Y-sơ-ra-ên bèn nói rằng: Than ôi! Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua này đến đặng nộp vào tay Mô-áp.

:「。」:「 。」

yuē shā fǎ shuō :「 zhè lǐ bú shì yǒu yē hé huá de xiān zhī ma ? wǒ men kě yǐ tuō tā qiú wèn yē hé huá 。」 yǐ sè liè wáng de yí gè chén zǐ huí dá shuō :「 zhè lǐ yǒu shā fǎ de ér zi yǐ lì shā , jiù shì cóng qián fú shì yǐ lì yà de 。」

Nhưng Giô-sa-phát hỏi: ỳ đây há chẳng có tiên tri nào của Đức Giê-hô-va để chúng ta nhờ người mà cầu vấn Đức Giê-hô-va chăng? Một đầy tớ của vua Y-sơ-ra-ên thưa rằng: ỳ đây có Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, là kẻ đã hầu việc Ê-li.

:「。」

yuē shā fǎ shuō :「 tā bì yǒu yē hé huá de huà 。」 yú shì yǐ sè liè wáng hé yuē shā fǎ , bìng yǐ dōng wáng dū xià qù jiàn tā 。

Giô-sa-phát tiếp: Lời phán của Đức Giê-hô-va vốn ở nơi người. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, Giô-sa-phát, và vua Ê-đôm, bèn đi đến người.

:「!」:「。」

yǐ lì shā duì yǐ sè liè wáng shuō :「 wǒ yǔ nǐ hé gān ? qù wèn nǐ fù qīn de xiān zhī hé nǐ mǔ qīn de xiān zhī ba !」 yǐ sè liè wáng duì tā shuō :「 bú yào zhè yàng shuō , yē hé huá zhāo jù wǒ men zhè sān wáng , nǎi yào jiāo zài mó yā rén de shǒu lǐ 。」

Ê-li-sê nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Vua và tôi có can hệ gì chăng? Khá đi cầu vấn các tiên tri của cha và mẹ vua. Vua Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Chẳng vậy đâu; vì Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua này đến, đặng nộp vào tay Mô-áp.

:「

yǐ lì shā shuō :「 wǒ zhǐ zhe suǒ shì fèng yǒng shēng de wàn jūn yē hé huá qǐ shì , wǒ ruò bú kàn yóu dà wáng yuē shā fǎ de qíng miàn , bì bù lǐ nǐ , bú gù nǐ 。

Ê-li-sê bèn nói: Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, tôi đứng trước mặt Ngài, mà thề rằng, nếu tôi không kính nể Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì tôi chẳng xem vua ra sao, và cũng không thấy đến nữa.

。」

xiàn zài nǐ men gěi wǒ zhǎo yí gè tán qín de lái 。」 tán qín de shí hòu , yē hé huá de líng jiù jiàng zài yǐ lì shā shēn shàng 。

Nhưng bây giờ, hãy đem đến cho tôi một người khảy đàn. Trong lúc người ấy khảy đàn, thì tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ê-li-sê.

便:「:『

tā biàn shuō :「 yē hé huá rú cǐ shuō :『 nǐ men yào zài zhè gǔ zhōng mǎn chù wā gōu ;

Người nói: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đào cho nhiều hầm hố khắp trong trũng này.

使。』

yīn wèi yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ men suī bú jiàn fēng , bú jiàn yǔ , zhè gǔ bì mǎn le shuǐ , shǐ nǐ men hé shēng chù yǒu shuǐ hē 。』

Vì Đức Giê-hô-va phán rằng: Các ngươi sẽ không thấy gió, cũng chẳng thấy mưa, thế mà trũng này sẽ đầy dẫy nước, và các ngươi, bầy chiên, cùng súc vật của các ngươi, đều sẽ uống nước được.

zài yē hé huá yǎn zhōng zhè hái suàn wèi xiǎo shì , tā yě bì jiāng mó yā rén jiāo zài nǐ men shǒu zhōng 。

Nhưng Đức Giê-hô-va coi sự này là nhỏ mọn quá: Ngài lại sẽ phó luôn dân Mô-áp vào tay các ngươi.

。」

nǐ men bì gōng pò yí qiè jiān chéng měi yì , kǎn fá gè zhǒng jiā shù , sāi zhù yí qiè shuǐ quán , yòng shí tou zāo tà yí qiè měi tián 。」

Các ngươi sẽ phá hủy hết thảy những thành kiên cố, những thành thị tứ, đốn những cây tốt, bít mọi suối nước, và lấy đá làm hư hại đồng ruộng màu mỡ.

cì rì zǎo chén , yuē zài xiàn jì de shí hòu , yǒu shuǐ cóng yǐ dōng ér lái , biàn dì jiù mǎn le shuǐ 。

Vậy, buổi sáng, nhằm giờ người ta dâng của lễ chay, thấy nước bởi đường Ê-đôm đến, và xứ bèn đầy những nước.

mó yā zhòng rén tīng jiàn zhè sān wáng shàng lái yào yǔ tā men zhēng zhàn , fán néng dǐng kuī guàn jiǎ de , wú lùn lǎo shào , jìn dōu jù jí zhàn zài biān jiè shàng 。

Khi dân Mô-áp hay rằng các vua ấy đi lên đặng đánh mình, thì nhóm hết thảy những người có thể nai nịch binh khí được trở lên, và đứng tại bờ cõi xứ.

cì rì zǎo chén , rì guāng zhào zài shuǐ shàng , mó yā rén qǐ lái , kàn jiàn duì miàn shuǐ hóng rú xuè ,

Ngày sau dân Mô-áp chổi dậy thật sớm; khi mặt trời mọc soi trên nước, dân Mô-áp thấy trước mặt mình nước đỏ như máu,

:「!」

jiù shuō :「 zhè shì xuè a ! bì shì sān wáng hù xiāng jī shā , jù dōu miè wáng 。 mó yā rén nǎ , wǒ men xiàn zài qù qiǎng duó cái wù ba !」

thì la lên rằng: Aáy là máu! Chắc ba vua ấy đã tranh chiến nhau, đánh giết lẫn nhau. Bây giờ, hỡi dân Mô-áp! hãy đi cướp của.

mó yā rén dào le yǐ sè liè yíng , yǐ sè liè rén jiù qǐ lái gōng dǎ tā men , yǐ zhì tā men zài yǐ sè liè rén miàn qián táo pǎo 。 yǐ sè liè rén wǎng qián zhuī shā mó yā rén , zhí shā rù mó yā de jìng nèi ,

Vậy, chúng đi đến trại quân Y-sơ-ra-ên; nhưng dân Y-sơ-ra-ên chổi dậy, hãm đánh dân Mô-áp, chúng nó chạy trốn khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên loán vào xứ, hãm đánh Mô-áp.

·

chāi huǐ mó yā de chéng yì , gè rén pāo shí tián mǎn yí qiè měi tián , sāi zhù yí qiè shuǐ quán , kǎn fá gè zhǒng jiā shù , zhī shèng xià jí ěr · hā liè shè de shí qiáng ; shuǎi shí de bīng zài sì wéi gōng dǎ nà chéng 。

Họ phá hủy các thành, ai nấy lấy đá liệng vào lấp các đồng ruộng màu mỡ, bít các nguồn nước, và đốn những cây tốt. tại Kiệt-Ha-rê-sết chỉ còn lại những vách thành: Những quân ném đá cũng vây xông phá các vách đó nữa.

mó yā wáng jiàn zhèn shì shèn dà , nán yǐ duì dí , jiù lǜ lǐng qī bǎi ná dāo de bīng , yào chōng guò zhèn qù dào yǐ dōng wáng nà lǐ , què shì bù néng ;

Vua Mô-áp thấy mình không thế chống nổi, bèn đem theo mình bảy trăm người cầm gươm, toan xông đến nơi vua Ê-đôm; nhưng không thế nào được.

便

biàn jiāng nà yìng dāng jiē xù tā zuò wáng de zhǎng zǐ , zài chéng shàng xiàn wèi fán jì 。 yǐ sè liè rén zāo yù yē hé huá de dà nù , yú shì sān wáng lí kāi mó yā wáng , gè huí běn guó qù le 。

Người bèn bắt thái tử, là kẻ phải kế vị mình, dâng làm của lễ thiêu tại trên vách thành. Bèn có cơn thạnh nộ nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên; thì họ lìa khỏi vua Mô-áp, và trở về xứ mình.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.