中文圣经

II CÁC VUA 4

đã biết 0/349

:「。」

yǒu yí gè xiān zhī mén tú de qī āi qiú yǐ lì shā shuō :「 nǐ pú rén — wǒ zhàng fu sǐ le , tā jìng wèi yē hé huá shì nǐ suǒ zhī dào de 。 xiàn zài yǒu zhài zhǔ lái , yào qǔ wǒ liǎng gè ér zi zuò nú pú 。」

Vả, có vợ của một người môn đồ của các đấng tiên tri đến phàn nàn cùng Ê-li-sê, mà rằng: Kẻ tôi tớ ông, là chồng tôi, đã qua đời; và ông biết rằng kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va. Vả, chủ nợ người đến toan bắt hai đứa con tôi làm tôi mọi.

:「?」:「。」

yǐ lì shā wèn tā shuō :「 wǒ kě yǐ wéi nǐ zuò shén me ne ? nǐ gào sù wǒ , nǐ jiā lǐ yǒu shén me ?」 tā shuō :「 bì nǚ jiā zhōng chú le yì píng yóu zhī wài , méi yǒu shén me 。」

Ê-li-sê nói với nàng rằng: Ta phải làm gì cho ngươi? Hãy nói cho ta biết ngươi có vật gì ở nhà? Nàng thưa rằng: Con đòi ông chẳng có gì trong nhà hơn là một hũ dầu.

:「

yǐ lì shā shuō :「 nǐ qù , xiàng nǐ zhòng lín shè jiè kōng qì mǐn , bú yào shǎo jiè ;

Người bèn tiếp rằng: Hãy đi ra ngoài mượn những bình không của các kẻ láng giềng ngươi, chớ mượn ít.

。」

huí dào jiā lǐ , guān shàng mén , nǐ hé nǐ ér zǐ zài lǐ miàn jiāng yóu dǎo zài suǒ yǒu de qì mǐn lǐ , dǎo mǎn le de fàng zài yì biān 。」

Khi ngươi trở về, hãy vào nhà với các con ngươi, đóng cửa lại, rồi hãy đổ dầu vào các bình đó; hễ bình nào đầy thì để nó riêng ra.

yú shì , fù rén lí kāi yǐ lì shā qù le , guān shàng mén , zì jǐ hé ér zi zài lǐ miàn ; ér zi bǎ qì mǐn ná lái , tā jiù dǎo yóu 。

Nàng liền đi khỏi người, vào nhà với các con trai mình, đóng cửa lại; các con trai nàng đem bình lại, và nàng đổ dầu vào.

:「。」:「。」

qì mǐn dōu mǎn le , tā duì ér zi shuō :「 zài gěi wǒ ná qì mǐn lái 。」 ér zi shuō :「 zài méi yǒu qì mǐn le 。」 yóu jiù zhǐ zhù le 。

Khi các bình đã đầy, nàng nói với con trai mình rằng: Hãy đem cho ta một bình nữa. Nhưng nó thưa rằng: Hết trơn bình rồi. Dầu bèn ngừng lại.

:「。」

fù rén qù gào sù shén rén , shén rén shuō :「 nǐ qù mài yóu huán zhài , suǒ shèng de nǐ hé nǐ ér zi kě yǐ kào zhe dù rì 。」

Bấy giờ, nàng đem việc ấy thuật cho người của Đức Chúa Trời, thì người nói rằng: Hãy đem bán dầu mà trả nợ của ngươi; đoạn, ngươi và các con trai ngươi sẽ lấy dầu còn lại mà nuôi mình.

yí rì , yǐ lì shā zǒu dào shū niàn , zài nà lǐ yǒu yí gè dà hù de fù rén qiáng liú tā chī fàn 。 cǐ hòu , yǐ lì shā měi cóng nà lǐ jīng guò jiù jìn qù chī fàn 。

Một ngày kia, Ê-li-sê đi ngang qua đất Su-nem. ỳ đó, có một người đàn bà giàu, cầm người ở lại ăn bữa. Từ ấy, mỗi khi người đi ngang qua đó, thì vào nhà người đàn bà này mà dùng bữa.

:「

fù rén duì zhàng fū shuō :「 wǒ kàn chū nà cháng cóng wǒ men zhè lǐ jīng guò de shì shèng jié de shén rén 。

Người nói với chồng mình rằng: Tôi biết rằng người năng đến nhà chúng ta đây, là một người thánh của Đức Chúa Trời.

。」

wǒ men kě yǐ wéi tā zài qiáng shàng gài yì jiān xiǎo lóu , zài qí zhōng ān fàng chuáng tà 、 zhuō zǐ 、 yǐ zi 、 dēng tái , tā lái dào wǒ men zhè lǐ , jiù kě yǐ zhù zài qí jiān 。」

Xin chúng ta hãy xây cất cho người một cái phòng cao, rồi để tại đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn. Vậy, khi người đến nhà ta, thì sẽ ở lại đó.

yí rì , yǐ lì shā lái dào nà lǐ , jiù jìn le nà lóu tǎng wò 。

Một ngày kia, Ê-li-sê đi đến Su-nem, trọ nơi phòng cao, và ngủ tại đó.

西:「。」

yǐ lì shā fēn fù pú rén jī hā xī shuō :「 nǐ jiào zhè shū niàn fù rén lái 。」 tā jiù bǎ fù rén jiào le lái , fù rén zhàn zài yǐ lì shā miàn qián 。

Người nói với Ghê-ha-xi, tôi tớ mình, rằng: Hãy gọi người đàn bà Su-nem đó đến. Ghê-ha-xi gọi nàng; nàng ra đứng trước mặt người.

:「?」:「。」

yǐ lì shā fēn fù pú rén shuō :「 nǐ duì tā shuō : nǐ jì wèi wǒ men fèi le xǔ duō xīn sī , kě yǐ wéi nǐ zuò shén me ne ? nǐ xiàng wáng huò yuán shuài yǒu suǒ qiú de méi yǒu ?」 tā huí dá shuō :「 wǒ zài wǒ běn xiāng ān jū wú shì 。」

Người nói với tôi tớ mình rằng: Hãy nói cùng nàng rằng: Kìa, ngươi đã lo liệu cho chúng ta mọi điều này; vậy chúng ta phải làm gì cho ngươi? Có phải ngươi muốn ta nói giùm cho ngươi với vua hay là với quan tổng binh chăng? Nàng thưa rằng: Tôi vẫn ở giữa dân sự tôi.

:「?」西:「。」

yǐ lì shā duì pú rén shuō :「 jiū jìng dāng wèi tā zuò shén me ne ?」 jī hā xī shuō :「 tā méi yǒu ér zi , tā zhàng fu yě lǎo le 。」

Ê-li-sê lại tiếp: Vậy, chúng ta phải làm gì cho người? Ghê-ha-xi đáp rằng: ĩ này, người không có con trai, và chồng người đã già rồi.

:「。」

yǐ lì shā shuō :「 zài jiào tā lái 。」 yú shì jiào le tā lái , tā jiù zhàn zài mén kǒu 。

Ê-li-sê nói rằng: Hãy gọi nàng. Ghê-ha-xi gọi nàng, nàng đến đứng nơi cửa.

:「。」:「。」

yǐ lì shā shuō :「 míng nián dào zhè shí hòu , nǐ bì bào yí gè ér zǐ 。」 tā shuō :「 shén rén , wǒ zhǔ a , bú yào nà yàng qī hǒng bì nǚ 。」

Ê-li-sê nói với người đàn bà rằng: Năm tới, trong lúc này, ngươi sẽ ẵm một đứa con trai. Nàng thưa: Hỡi chúa tôi, là người của Đức Chúa Trời! xin chớ nói dối cùng con đòi của chúa.

怀

fù rén guǒ rán huái yùn , dào le nà shí hòu , shēng le yí gè ér zi , zhèng rú yǐ lì shā suǒ shuō de 。

Người đàn bà ấy thọ thai, và một năm sau, cũng trong lúc đó, sanh một đứa con trai, y như lời Ê-li-sê đã nói trước cho nàng.

hái zi jiàn jiàn zhǎng dà , yí rì dào tā fù qīn hé shōu gē de rén nà lǐ ,

Xảy ra khi đứa trẻ lớn lên, một ngày kia nó đi đến cha nó nơi những người gặt lúa,

:「!」:「。」

tā duì fù qīn shuō :「 wǒ de tóu a , wǒ de tóu a !」 tā fù qīn duì pú rén shuō :「 bǎ tā bào dào tā mǔ qīn nà lǐ 。」

mà nói rằng: Đầu tôi đau! đầu tôi đau! Người cha biểu kẻ tôi tớ đem nó về cho mẹ nó.

pú rén bào qù , jiāo gěi tā mǔ qīn ; hái zi zuò zài mǔ qīn de xī shàng , dào shǎng wǔ jiù sǐ le 。

Người tôi tớ đem nó về, giao cho mẹ nó; đứa trẻ ngồi trên đầu gối của mẹ cho đến trưa, rồi chết.

tā mǔ qīn bào tā shàng le lóu , jiāng tā fàng zài shén rén de chuáng shàng , guān shàng mén chū lái ,

Nàng bèn đi lên để nó nằm trên giường người của Đức Chúa Trời, rồi đi ra, đóng cửa lại.

:「。」

hū jiào tā zhàng fu shuō :「 nǐ jiào yí gè pú rén gěi wǒ qiān yì pǐ lǘ lái , wǒ yào kuài kuài dì qù jiàn shén rén , jiù huí lái 。」

Kế đó, nàng kêu chồng mình mà nói rằng: Tôi xin ông cắt cho tôi một đứa đầy tớ, và một con lừa, để tôi chạy đến người của Đức Chúa Trời; đoạn, tôi sẽ trở về.

:「?」:「。」

zhàng fu shuō :「 jīn rì bú shì yuè shuò , yě bú shì ān xī rì , nǐ wèi hé yào qù jiàn tā ne ?」 fù rén shuō :「 píng ān wú shì 。」

Chồng hỏi nàng rằng: Ngày nay chẳng phải mồng một, cũng chẳng phải ngày Sa-bát. vậy, nhân sao muốn đi đến cùng người? Nàng đáp: Mọi điều bình an.

:「。」

yú shì bèi shàng lǘ , duì pú rén shuō :「 nǐ kuài kuài gǎn zhe zǒu , wǒ ruò bù fēn fù nǐ , jiù bú yào chí màn 。」

Nàng biểu thắng lừa, và nói với kẻ tôi tớ rằng: Hãy đem ta đi mau mau, nếu ta biểu ngươi mới ngừng lại.

西:「

fù rén jiù wǎng jiā mì shān qù jiàn shén rén 。 shén rén yuǎn yuǎn dì kàn jiàn tā , duì pú rén jī hā xī shuō :「 kàn nǎ , shū niàn de fù rén lái le !

Vậy, nàng đi đến cùng người của Đức Chúa Trời tại trên núi Cạt-mên. Người của Đức Chúa Trời thấy nàng đằng xa, bèn nói với Ghê-ha-xi, kẻ tôi tớ mình, rằng: Kìa, người đàn bà Su-nem!

?」:「。」

nǐ pǎo qù yíng jiē tā , wèn tā shuō : nǐ píng ān ma ? nǐ zhàng fu píng ān ma ? hái zi píng ān ma ?」 tā shuō :「 píng ān 。」

Vậy, hãy chạy đi đón nàng, và hỏi nàng rằng: Mọi việc đều bình an chăng? Chồng và con ngươi bình an chăng? Nàng đáp: Bình an.

西:「。」

fù rén shàng le shān , dào shén rén nà lǐ , jiù bào zhù shén rén de jiǎo 。 jī hā xī qián lái yào tuī kāi tā , shén rén shuō :「 yóu tā ba ! yīn wèi tā xīn lǐ chóu kǔ , yē hé huá xiàng wǒ yǐn mán , méi yǒu zhǐ shì wǒ 。」

Khi nàng đến gần người của Đức Chúa Trời, tại trên núi, thì ôm lấy chân người. Ghê-ha-xi đến gần đặng xô nàng ra, nhưng người của Đức Chúa Trời nói cùng người rằng: Hãy để mặc nàng; linh hồn nàng đắng cay; Đức Giê-hô-va có giấu ta điều đó, không tỏ cho ta hay.

:「?」

fù rén shuō :「 wǒ hé cháng xiàng wǒ zhǔ qiú guò ér zi ne ? wǒ qǐ méi yǒu shuō guò , bú yào qī hǒng wǒ ma ?」

Người đàn bà ấy bèn nói rằng: Tôi há có cầu chúa một đứa con trai sao? Tôi há chẳng có nói với chúa rằng: Xin chớ dối tôi?

西:「。」

yǐ lì shā fēn fù jī hā xī shuō :「 nǐ shù shàng yāo , shǒu ná wǒ de zhàng qián qù ; ruò yù jiàn rén , bú yào xiàng tā wèn ān ; rén ruò xiàng nǐ wèn ān , yě bú yào huí dá ; yào bǎ wǒ de zhàng fàng zài hái zi liǎn shàng 。」

Ê-li-sê nói cùng Ghê-ha-xi rằng: Hãy thắt lưng ngươi, cầm gậy ta nơi tay và đi. Nếu ngươi gặp ai, chớ chào họ; nếu ai chào ngươi, chớ đáp lại. Ngươi sẽ đặt cây gậy ta trên mặt đứa trẻ.

:「。」

hái zǐ de mǔ qīn shuō :「 wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá , yòu gǎn zài nǐ miàn qián qǐ shì , wǒ bì bù lí kāi nǐ 。」 yú shì yǐ lì shā qǐ shēn , suí zhe tā qù le 。

Người mẹ của đứa trẻ nói rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, và chỉ mạng sống của ông mà thề, tôi chẳng hề lìa khỏi ông! Ê-li-sê bèn chổi dậy, và đi theo người.

西西:「。」

jī hā xī xiān qù , bǎ zhàng fàng zài hái zi liǎn shàng , què méi yǒu shēng yīn , yě méi yǒu dòng jìng 。 jī hā xī jiù yíng zhe yǐ lì shā huí lái , gào sù tā shuō :「 hái zi hái méi yǒu xǐng guò lái 。」

Ghê-ha-xi đi trước hai người, và đặt cây gậy trên mặt đứa trẻ. Nhưng người chẳng nghe một tiếng nào, cũng chẳng thấy mòi gì sống. Người trở lại đón Ê-li-sê, và thưa cùng người rằng: Đứa trẻ không tỉnh lại.

yǐ lì shā lái dào , jìn le wū zi , kàn jiàn hái zi sǐ le , fàng zài zì jǐ de chuáng shàng 。

Khi Ê-li-sê vào nhà, thấy đứa trẻ đã chết, nằm sải trên giường.

便

tā jiù guān shàng mén , zhǐ yǒu zì jǐ hé hái zi zài lǐ miàn , tā biàn qí dǎo yē hé huá ,

Ê-li-sê vào trong phòng, đóng cửa lại, có đứa trẻ và mình ở trong, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va.

shàng chuáng fú zài hái zi shēn shàng , kǒu duì kǒu , yǎn duì yǎn , shǒu duì shǒu ; jì fú zài hái zi shēn shàng , hái zi de shēn tǐ jiù jiàn jiàn wēn hé le 。

Đoạn, người leo trên giường, nằm trên đứa trẻ; đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Người nằm ấp trên mình nó, xác đứa trẻ bèn ấm lại.

rán hòu tā xià lái , zài wū lǐ lái wǎng zǒu le yí tàng , yòu shàng qù fú zài hái zi shēn shàng , hái zi dǎ le qī gè pēn tì , jiù zhēng kāi yǎn jīng le 。

Ê-li-sê trở xuống, đi qua đi lại trong phòng; đoạn, leo lên giường, nằm ấp trên mình đứa trẻ nữa. Rốt lại, nó nhảy mũi bảy lần, và mở mắt ra.

西:「」;:「。」

yǐ lì shā jiào jī hā xī shuō :「 nǐ jiào zhè shū niàn fù rén lái 」; yú shì jiào le tā lái 。 yǐ lì shā shuō :「 jiāng nǐ ér zi bào qǐ lái 。」

Ê-li-sê liền gọi Ghê-ha-xi mà biểu rằng: Hãy gọi người đàn bà Su-nem. Ghê-ha-xi gọi người. Khi nàng chạy đến, Ê-li-sê nói với nàng rằng: Hãy ẵm lấy con ngươi.

fù rén jiù jìn lái , zài yǐ lì shā jiǎo qián fǔ fú yú dì , bào qǐ tā ér zi chū qù le 。

Nàng bèn lại gần, sấp mình xuống dưới chân người và lạy; đoạn ẵm lấy con mình và đi ra.

:「。」

yǐ lì shā yòu lái dào jí jiǎ , nà dì zhèng yǒu jī huāng 。 xiān zhī mén tú zuò zài tā miàn qián , tā fēn fù pú rén shuō :「 nǐ jiāng dà guō fàng zài huǒ shàng , gěi xiān zhī mén tú áo tāng 。」

Ê-li-sê trở về Ghinh-ganh. Vả, trong xứ có đói kém. Các môn đồ của những tiên tri đều ngồi trước mặt người. Người biểu kẻ tôi tớ mình rằng: Hãy bắc cái nồi lớn, nấu canh cho các môn đồ của những tiên tri.

西

yǒu yí gè rén qù dào tián yě qiā cài , yù jiàn yì kē yě guā téng , jiù zhāi le yì dōu yě guā huí lái , qiè le gē zài áo tāng de guō zhōng , yīn wèi tā men bù zhī dào shì shén me dōng xī ;

Một người trong bọn họ đi ra ngoài đồng đặng hái rau, thấy một dây rừng leo, bèn hái những dưa dại, bọc đầy vạt áo tơi mình. Khi người trở về, xắt ra từng miếng, bỏ trong nồi nấu canh, chẳng biết nó là thứ gì.

:「!」

dǎo chū lái gěi zhòng rén chī , chī de shí hòu , dōu hǎn jiào shuō :「 shén rén nǎ , guō zhōng yǒu zhì sǐ de dú wù !」 suǒ yǐ zhòng rén bù néng chī le 。

Người ta múc cho các người ăn; nhưng vừa khi họ nếm canh, thì la lên rằng: Hỡi người của Đức Chúa Trời, sự chết ở trong nồi nầy! Họ ăn canh ấy không đặng.

:「」,:「!」

yǐ lì shā shuō :「 ná diǎn miàn lái 」, jiù bǎ miàn sā zài guō zhōng , shuō :「 dǎo chū lái , gěi zhòng rén chī ba !」 guō zhōng jiù méi yǒu dú le 。

Ê-li-sê nói: Thế thì, hãy đem bột lại. Người bỏ bột trong nồi, và biểu rằng: Hãy múc cho các người ăn. Vậy, trong canh chẳng còn độc gì nữa.

·:「。」

yǒu yí gè rén cóng bā lì · shā lì shā lái , dài zhe chū shú dà mài zuò de bǐng èr shí gè , bìng xīn suì zǐ , zhuāng zài kǒu dài lǐ sòng gěi shén rén 。 shén rén shuō :「 bǎ zhè xiē gěi zhòng rén chī 。」

Có một người ở Ba-anh-Sa-li-sa đến, đem cho người của Đức Chúa Trời hai mươi ổ bánh lúa mạch, và lúa còn gié để trong bị mình, làm của lễ đầu mùa gặt. Ê-li-sê biểu kẻ tôi tớ mình rằng: Hãy đem phát cho các người ăn.

:「?」:「。」

pú rén shuō :「 zhè yì diǎn qǐ kě bǎi gěi yì bǎi rén chī ne ?」 yǐ lì shā shuō :「 nǐ zhǐ guǎn gěi zhòng rén chī ba ! yīn wèi yē hé huá rú cǐ shuō , zhòng rén bì chī le , hái shèng xià 。」

Kẻ tôi tớ người thưa rằng: Chi! Tôi phải phát đồ này cho một trăm người sao? Nhưng Ê-li-sê đáp: Hãy phát cho họ các bánh đó, hầu cho họ ăn đi; vì Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Người ta sẽ ăn và còn dư lại.

pú rén jiù bǎi zài zhòng rén miàn qián , tā men chī le , guǒ rán hái shèng xià , zhèng rú yē hé huá suǒ shuō de 。

Aáy vậy, người đặt các bánh đó trước mặt họ; họ ăn, và còn thừa lại, y như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.