中文圣经

CÔNG VỤ 20

đã biết 0/360

luàn dìng zhī hòu , bǎo luó qǐng mén tú lái , quàn miǎn tā men , jiù cí bié qǐ xíng , wǎng mǎ qí dùn qù 。

Khi sự rối loạn yên rồi, Phao-lô vời các môn đồ đến, khuyên bảo xong, thì từ giã mà đi đến xứ Ma-xê-đoan.

zǒu biàn le nà yí dài dì fāng , yòng xǔ duō huà quàn miǎn mén tú , rán hòu lái dào xī là 。

Người trải khắp trong miền nầy, dùng nhiều lời khuyên bảo các tín đồ; rồi tới nước Gờ-réc,

zài nà lǐ zhù le sān gè yuè , jiāng yào zuò chuán wǎng xù lì yà qù , yóu tài rén shè jì yào hài tā , tā jiù dìng yì cóng mǎ qí dùn huí qù 。

ở đó ba tháng. Lúc gần xuống thuyền qua xứ Sy-ri, thì người Giu-đa lập kế hại người, nên người định trải qua xứ Ma-xê-đoan mà trở về.

西

tóng tā dào yà xì yà qù de , yǒu bì lī yà rén bì luó sī de ér zǐ suǒ bā tè , tiē sā luó ní jiā rén yà lǐ dá gǔ hé xī gōng dōu , hái yǒu tè bì rén gāi yóu , bìng tí mó tài , yòu yǒu yà xì yà rén tuī jī gǔ hé tè luó fēi mó 。

Sô-ba-tê, con Bi-ru, quê thành Bê-rê, cùng đi với người, lại có A-ri-tạc và Xê-cun-đu quê thành Tê-sa-lô-ni-ca, Gai-út quê thành Đẹt-bơ và Ti-mô-thê; Ti-chi-cơ và Trô-phim đều quê ở cõi A-si.

zhè xiē rén xiān zǒu , zài tè luó yà děng hòu wǒ men 。

Những người nầy đi trước, đợi chúng ta tại thành Trô-ách.

guò le chú jiào de rì zi , wǒ men cóng féi lì bǐ kāi chuán , wǔ tiān dào le tè luó yà , hé tā men xiāng huì , zài nà lǐ zhù le qī tiān 。

Còn chúng ta, khi những ngày ăn bánh không men qua rồi, thì xuống thuyền tại thành Phi-líp, trong năm ngày gặp nhau tại thành Trô-ách, rồi chúng ta ở lại đó bảy ngày.

qī rì de dì yī rì , wǒ men jù huì bò bǐng de shí hòu , bǎo luó yīn wèi yào cì rì qǐ xíng , jiù yǔ tā men jiǎng lùn , zhí jiǎng dào bàn yè 。

Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nửa đêm,

wǒ men jù huì de nà zuò lóu shàng , yǒu hǎo xiē dēng zhú 。

có nhiều đèn trong phòng cao mà chúng ta đang nhóm lại.

yǒu yí gè shào nián rén , míng jiào yóu tuī gǔ , zuò zài chuāng tái shàng , kùn juàn chén shuì 。 bǎo luó jiǎng le duō shí , shào nián rén shuì shú le , jiù cóng sān céng lóu shàng diào xià qù ; fú qǐ tā lái , yǐ jīng sǐ le 。

Một gã tuổi trẻ tên là Ơ-tích, ngồi trên cửa sổ, ngủ gục trong khi Phao-lô giảng rất dài; và bị ngủ mê quá, nên từ tầng lầu thứ ba té xuống, lúc đỡ dậy đã thấy chết rồi.

:「。」

bǎo luó xià qù , fú zài tā shēn shàng , bào zhe tā , shuō :「 nǐ men bú yào fā huāng , tā de líng hún hái zài shēn shàng 。」

Nhưng, Phao-lô bước xuống, nghiêng mình trên người, ôm lấy mà nói rằng: Chớ bối rối, linh hồn còn ở trong người.

bǎo luó yòu shàng qù , bò bǐng , chī le , tán lùn xǔ jiǔ , zhí dào tiān liàng , zhè cái zǒu le 。

Phao-lô lại trở lên, bẻ bánh mà ăn; giảng luận lâu cho đến sáng mới đi.

yǒu rén bǎ nà tóng zǐ huó huó dì lǐng lái , dé de ān wèi bù xiǎo 。

Còn gã tuổi trẻ người ta đem đi, thì được sống, sự ấy làm cho mọi người đều được yên ủi lắm.

wǒ men xiān shàng chuán , kāi wǎng yà shuò qù , yì sī yào zài nà lǐ jiē bǎo luó ; yīn wèi tā shì zhè yàng ān pái de , tā zì jǐ dǎ suàn yào bù xíng 。

Còn chúng ta, thì đi trước, chạy thuyền đến thành A-sốt, là nơi chúng ta phải gặp Phao-lô; người đã định vậy, vì muốn đi bộ.

tā jì zài yà shuò yǔ wǒ men xiāng huì , wǒ men jiù jiē tā shàng chuán , lái dào mǐ tuī lì ní 。

Chúng ta gặp người tại thành A-sốt, bèn đem người đi với, cùng đến thành Mi-ti-len.

cóng nà lǐ kāi chuán , cì rì dào le jī ā de duì miàn ; yòu cì rì , zài sā mó kào àn ; yòu cì rì , lái dào mǐ lì dōu 。

Rồi đi từ nơi đó, vẫn theo đường biển, ngày mai đến ngang đảo Chi-ô. Qua ngày sau, chúng ta ghé vào thành Sa-mốt, cách một ngày nữa, thì tới thành Mi-lê.

nǎi yīn bǎo luó zǎo yǐ dìng yì yuè guò yǐ fú suǒ , miǎn de zài yà xì yà dān yán , tā jí máng qián zǒu , bā bù dé gǎn wǔ xún jié néng dào yē lù sā lěng 。

Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô, xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp ngày lễ Ngũ tuần.

bǎo luó cóng mǐ lì dōu dǎ fā rén wǎng yǐ fú suǒ qù , qǐng jiào huì de zhǎng lǎo lái 。

Bấy giờ, Phao-lô sai người ở thành Mi-lê đi tới thành Ê-phê-sô, mời các trưởng lão trong Hội thánh đến.

:「

tā men lái le , bǎo luó jiù shuō :「 nǐ men zhī dào , zì cóng wǒ dào yà xì yà de rì zi yǐ lái , zài nǐ men zhōng jiān shǐ zhōng wèi rén rú hé ,

Khi các người ấy đã nhóm cùng người, người nói rằng: Từ ngày tôi mới đến cõi A-si, hằng ăn ở luôn với anh em cách nào, anh em vẫn biết,

fú shì zhǔ , fán shì qiān bēi , yǎn zhōng liú lèi , yòu yīn yóu tài rén de móu hài , jīng lì shì liàn 。

tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi.

nǐ men yě zhī dào , fán yǔ nǐ men yǒu yì de , wǒ méi yǒu yí yàng bì huì bù shuō de , huò zài zhòng rén miàn qián , huò zài gè rén jiā lǐ , wǒ dōu jiào dǎo nǐ men ;

Anh em biết tôi chẳng trễ nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng dấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia,

yòu duì yóu tài rén hé xī là rén zhèng míng dāng xiàng shén huǐ gǎi , xìn kào wǒ zhǔ yē sū jī dū 。

giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta.

xiàn zài wǒ wǎng yē lù sā lěng qù , xīn shèn pò qiè , bù zhī dào zài nà lǐ yào yù jiàn shén me shì ;

Kìa, nay bị Đức Thánh Linh ràng buộc, tôi đi đến thành Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều chi sẽ xảy đến cho tôi ở đó;

dàn zhī dào shèng líng zài gè chéng lǐ xiàng wǒ zhǐ zhèng , shuō yǒu kǔn suǒ yǔ huàn nàn děng dài wǒ 。

duy Đức Thánh Linh đã bảo trước cho tôi rằng từ thành nầy sang thành khác dây xích và hoạn nạn đang đợi tôi đó.

wǒ què bù yǐ xìng mìng wèi niàn , yě bú kàn wèi bǎo guì , zhǐ yào xíng wán wǒ de lù chéng , chéng jiù wǒ cóng zhǔ yē sū suǒ lǐng shòu de zhí shì , zhèng míng shén ēn huì de fú yīn 。

Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời.

「 wǒ sù cháng zài nǐ men zhōng jiān lái wǎng , chuán jiǎng shén guó de dào ; rú jīn wǒ xiǎo de , nǐ men yǐ hòu dōu bù dé zài jiàn wǒ de miàn le 。

Hiện bây giờ, tôi biết rằng giữa anh em mà tôi đã ghé qua giảng về nước Đức Chúa Trời, thì chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa.

suǒ yǐ wǒ jīn rì xiàng nǐ men zhèng míng , nǐ men zhōng jiān wú lùn hé rén sǐ wáng , zuì bú zài wǒ shēn shàng 。

Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt các anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy.

yīn wèi shén de zhǐ yì , wǒ bìng méi yǒu yí yàng bì huì bù chuán gěi nǐ men de 。

Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời.

shèng líng lì nǐ men zuò quán qún de jiān dū , nǐ men jiù dāng wèi zì jǐ jǐn shèn , yě wèi quán qún jǐn shèn , mù yǎng shén de jiào huì , jiù shì tā yòng zì jǐ xuè suǒ mǎi lái de 。

Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.

wǒ zhī dào , wǒ qù zhī hòu bì yǒu xiōng bào de chái láng jìn rù nǐ men zhōng jiān , bú ài xī yáng qún 。

Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu;

jiù shì nǐ men zhōng jiān , yě bì yǒu rén qǐ lái shuō bèi miù de huà , yào yǐn yòu mén tú gēn cóng tā men 。

lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ.

suǒ yǐ nǐ men yīng dāng jǐng xǐng , jì niàn wǒ sān nián zhī jiǔ zhòu yè bú zhù dì liú lèi 、 quàn jiè nǐ men gè rén 。

Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn.

rú jīn wǒ bǎ nǐ men jiāo tuō shén hé tā ēn huì de dào ; zhè dào néng jiàn lì nǐ men , jiào nǐ men hé yí qiè chéng shèng de rén tóng dé jī yè 。

Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh.

wǒ wèi céng tān tú yí gè rén de jīn 、 yín 、 yī fu 。

Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết.

wǒ zhè liǎng zhī shǒu cháng gōng jǐ wǒ hé tóng rén de xū yòng , zhè shì nǐ men zì jǐ zhī dào de 。

Chính anh em biết rằng hai bàn tay nầy đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi.

:『。』」

wǒ fán shì gěi nǐ men zuò bǎng yàng , jiào nǐ men zhī dào yīng dāng zhè yàng láo kǔ , fú zhù ruǎn ruò de rén , yòu dāng jì niàn zhǔ yē sū de huà , shuō :『 shī bǐ shòu gèng wéi yǒu fú 。』」

Tôi từng bày bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh.

bǎo luó shuō wán le zhè huà , jiù guì xià tóng zhòng rén dǎo gào 。

Phao-lô nói lời đó xong, bèn quì xuống và cầu nguyện với hết thảy các người ấy.

zhòng rén tòng kū , bào zhe bǎo luó de jǐng xiàng , hé tā qīn zuǐ 。

Ai nấy đều khóc lắm, ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn,

jiào tā men zuì shāng xīn de , jiù shì tā shuō 「 yǐ hòu bù néng zài jiàn wǒ de miàn 」 nà jù huà , yú shì sòng tā shàng chuán qù le 。

lấy làm buồn bực nhất là vì nghe người nói rằng anh em sẽ chẳng thấy mặt mình nữa. Đoạn, đưa người xuống tàu.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.