中文圣经

CÔNG VỤ 23

đã biết 0/297

:「 。」

bǎo luó dìng jīng kàn zhe gōng huì de rén , shuō :「 dì xiong men , wǒ zài shén miàn qián xíng shì wèi rén dōu shì píng zhe liáng xīn , zhí dào jīn rì 。」

Phao-lô mắt chăm chỉ trên tòa công luận, nói rằng: Hỡi các anh em, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi đã ăn ở trọn lương tâm tử tế cho đến ngày nay.

dà jì sī yà ná ní yà jiù fēn fù páng biān zhàn zhe de rén dǎ tā de zuǐ 。

Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm là A-na-nia biểu mấy kẻ đứng gần Phao-lô vả miệng người.

:「?」

bǎo luó duì tā shuō :「 nǐ zhè fěn shì de qiáng , shén yào dǎ nǐ ! nǐ zuò táng wèi de shì àn lǜ fǎ shěn wèn wǒ , nǐ jìng wéi bèi lǜ fǎ , fēn fù rén dǎ wǒ ma ?」

Phao-lô bèn nói cùng người rằng: Hỡi bức tường tô trắng kia, Đức Chúa Trời sẽ đánh ông; ông ngồi để xử đoán tôi theo luật pháp, mà lại không kể luật pháp, biểu người đánh tôi!

:「 ?」

zhàn zài páng biān de rén shuō :「 nǐ rǔ mà shén de dà jì sī ma ?」

Những kẻ đứng đó nói rằng: Ngươi nhiếc móc thầy cả thượng phẩm của Đức Chúa Trời sao!

:「:『。』」

bǎo luó shuō :「 dì xiong men , wǒ bù xiǎo de tā shì dà jì sī ; jīng shàng jì zhe shuō :『 bù kě huǐ bàng nǐ bǎi xìng de guān zhǎng 。』」

Phao-lô trả lời rằng: Hỡi anh em, tôi chẳng biết là thầy cả thượng phẩm; vì có chép rằng: Chớ sỉ nhục người cai trị dân mình.

:「。」

bǎo luó kàn chū dà zhòng yí bàn shì sā dōu gāi rén , yí bàn shì fǎ lì sài rén , jiù zài gōng huì zhōng dà shēng shuō :「 dì xiong men , wǒ shì fǎ lì sài rén , yě shì fǎ lì sài rén de zǐ sūn 。 wǒ xiàn zài shòu shěn wèn , shì wèi pàn wàng sǐ rén fù huó 。」

Phao-lô biết trong bọn họ phần thì người Sa-đu-sê, phần thì người Pha-ri-si, bèn kêu lên trước tòa công luận rằng: Hỡi anh em, tôi là người Pha-ri-si, con của dòng Pha-ri-si. Aáy là vì sự trông cậy của chúng ta và sự sống lại của những kẻ chết mà tôi phải chịu xử đoán.

shuō le zhè huà , fǎ lì sài rén hé sā dōu gāi rén jiù zhēng lùn qǐ lái , huì zhòng fēn wéi liǎng dǎng 。

Người vừa nói xong như vậy, thì sự cãi lẫy nổi lên giữa người Pha-ri-si với người Sa-đu-sê, và hội đồng chia phe ra.

使

yīn wèi sā dōu gāi rén shuō , méi yǒu fù huó , yě méi yǒu tiān shǐ hé guǐ hún ; fǎ lì sài rén què shuō , liǎng yàng dōu yǒu 。

Vì chưng người Sa-đu-sê quyết rằng không có sự sống lại, cũng không có thiên sứ, thần chi hết, còn người Pha-ri-si lại nhận cả hai điều tin ấy.

:「使?」

yú shì dà dà dì xuān rǎng qǐ lái 。 yǒu jǐ gè fǎ lì sài dǎng de wén shì zhàn qǐ lái zhēng biàn shuō :「 wǒ men kàn bù chū zhè rén yǒu shén me è chù , tǎng ruò yǒu guǐ hún huò shì tiān shǐ duì tā shuō guò huà , zěn me yàng ne ?」

Tiếng kêu la lớn liền dậy lên. Có mấy thầy thông giáo về dòng Pha-ri-si đứng dậy cãi lẫy cùng kẻ khác rằng: Chúng ta chẳng thấy trong người nầy có điều ác gì. Nào ai biết chẳng phải thần hoặc thiên sứ đã nói cùng người?

nà shí dà qǐ zhēng chǎo , qiān fū cháng kǒng pà bǎo luó bèi tā men chě suì le , jiù fēn fù bīng dīng xià qù , bǎ tā cóng zhòng rén dāng zhōng qiǎng chū lái , dài jìn yíng lóu qù 。

Vì sự rối loạn càng thêm, quản cơ e Phao-lô bị chúng phân thây chăng, nên truyền quân kéo xuống, đặng cướp người ra khỏi giữa đám họ và đem về trong đồn.

:「。」

dāng yè , zhǔ zhàn zài bǎo luó páng biān , shuō :「 fàng xīn ba ! nǐ zěn yàng zài yē lù sā lěng wèi wǒ zuò jiàn zhèng , yě bì zěn yàng zài luó mǎ wèi wǒ zuò jiàn zhèng 。」

Qua đêm sau, Chúa hiện đến cùng người mà phán rằng: Hãy giục lòng mạnh mẽ, ngươi đã làm chứng cho ta tại thành Giê-ru-sa-lem thể nào, thì cũng phải làm chứng cho ta tại thành Rô-ma thể ấy.

:「。」

dào le tiān liàng , yóu tài rén tóng móu qǐ shì , shuō :「 ruò bù xiān shā bǎo luó jiù bù chī bù hē 。」

Đến sáng, người Giu-đa họp đảng lập mưu, mà thề nguyện rằng chẳng ăn chẳng uống cho đến giết được Phao-lô.

zhè yàng tóng xīn qǐ shì de yǒu sì shí duō rén 。

Có hơn bốn mươi người đã lập mưu đó.

:「

tā men lái jiàn jì sī zhǎng hé zhǎng lǎo , shuō :「 wǒ men yǐ jīng qǐ le yí gè dà shì , ruò bù xiān shā bǎo luó jiù bù chī shén me 。

Họ đến kiếm các thầy tế lễ cả và các trưởng lão mà rằng: Chúng tôi đã thề với nhau rằng chẳng ăn chi hết cho đến lúc giết được Phao-lô.

。」

xiàn zài nǐ men hé gōng huì yào zhī hui qiān fū cháng , jiào tā dài xià bǎo luó dào nǐ men zhè lǐ lái , jiǎ zuò yào xiáng xì chá kǎo tā de shì ; wǒ men yǐ jīng yù bèi hǎo le , bù děng tā lái dào gēn qián jiù shā tā 。」

Vậy bây giờ các ông với tòa công luận hãy xin quản cơ bắt nó đến đứng trước mặt các ông, như là muốn tra xét việc nó cho kỹ càng hơn nữa; còn chúng tôi sửa soạn sẵn để khi nó chưa đến đây thì giết đi.

bǎo luó de wài shēng tīng jiàn tā men shè xià mái fú , jiù lái dào yíng lóu lǐ gào sù bǎo luó 。

Nhưng có con trai của chị Phao-lô biết được mưu gian ấy, đến nơi đồn, vào nói trước cho Phao-lô.

:「。」

bǎo luó qǐng yí gè bǎi fū cháng lái , shuō :「 nǐ lǐng zhè shào nián rén qù jiàn qiān fū cháng , tā yǒu shì gào sù tā 。」

Phao-lô bèn gọi một đội trưởng mà nói rằng: Hãy đem gã trai trẻ nầy đến cùng quan quản cơ, chàng có việc muốn báo tin.

:「。」

yú shì bǎ tā lǐng qù jiàn qiān fū cháng , shuō :「 bèi qiú de bǎo luó qǐng wǒ dào tā nà lǐ , qiú wǒ lǐng zhè shào nián rén lái jiàn nǐ ; tā yǒu shì gào sù nǐ 。」

Vậy, đội trưởng đem chàng đi, dẫn đến nhà quản cơ, và thưa rằng: Tên tù Phao-lô có gọi tôi biểu đem gã trai trẻ nầy đến cùng quan, chàng có việc muốn nói.

:「?」

qiān fū cháng jiù lā zhe tā de shǒu , zǒu dào yì páng , sī xià wèn tā shuō :「 nǐ yǒu shén me shì gào sù wǒ ne ?」

Quản cơ nắm tay người trai trẻ, kéo xê ra, hỏi rằng: Ngươi có việc gì báo tin cùng ta?

:「

tā shuō :「 yóu tài rén yǐ jīng yuē dìng , yào qiú nǐ míng tiān dài xià bǎo luó dào gōng huì lǐ qù , jiǎ zuò yào xiáng xì chá wèn tā de shì 。

Thưa rằng: Người Giu-đa đã định xin quan, đến ngày mai, bắt Phao-lô đứng trước tòa công luận, như là họ muốn tra xét việc của người cho kỹ càng hơn.

。」

nǐ qiè bú yào suí cóng tā men ; yīn wèi tā men yǒu sì shí duō rén mái fú , yǐ jīng qǐ shì shuō , ruò bù xiān shā bǎo luó jiù bù chī bù hē 。 xiàn zài yù bèi hǎo le , zhī děng nǐ yīng yǔn 。」

Nhưng xin quan chớ tin họ, vì có hơn bốn mươi người trong bọn họ lập kế hại Phao-lô, đã thề nguyện với nhau chẳng ăn uống chi hết trước khi chưa giết được người; hiện bây giờ, họ đã sắm sẵn, chỉ đợi quan trả lời đó thôi.

:「。」

yú shì qiān fū cháng dǎ fā shǎo nián rén zǒu , zhǔ fù tā shuō :「 bú yào gào sù rén nǐ jiāng zhè shì bào gěi wǒ le 。」

Quản cơ cho gã trai trẻ ấy về, cấm không cho nói với ai về điều người đã tỏ ra cùng mình.

便:「

qiān fū cháng biàn jiào le liǎng gè bǎi fū zhǎng lái , shuō :「 yù bèi bù bīng èr bǎi , mǎ bīng qī shí , cháng qiāng shǒu èr bǎi , jīn yè hài chū wǎng kǎi sā lì yà qù ;

Đoạn, quản cơ đòi hai viên đội trưởng, dặn rằng: Vừa giờ thứ ba đêm nay, hãy sắm sẵn hai trăm quân, bảy mươi lính kỵ, hai trăm lính cầm giáo, đặng đi đến thành Sê-sa-rê.

。」

yě yào yù bèi shēng kǒu jiào bǎo luó qí shàng , hù sòng dào xún fǔ féi lì sī nà lǐ qù 。」

Lại cũng phải sắm ngựa nữa, để đưa Phao-lô vô sự đến nơi quan tổng đốc Phê-lít.

qiān fū cháng yòu xiě le wén shū ,

Người lại viết cho quan đó một bức thơ như sau nầy:

:「·西

dà lüè shuō :「 kè láo dì · lǚ xī yà , qǐng xún fǔ féi lì sī dà rén ān 。

Cơ-lốt Ly-sia chúc bình an cho quan lớn tổng đốc Phê-lít!

zhè rén bèi yóu tài rén ná zhù , jiāng yào shā hài , wǒ dé zhī tā shì luó mǎ rén , jiù dài bīng dīng xià qù jiù tā chū lái 。

Dân Giu-đa đã bắt người nầy, toan giết đi, khi tôi đã đem quân đến thình lình mà cướp người ra khỏi, vì đã nghe người là quốc dân Rô-ma.

yīn yào zhī dào tā men gào tā de yuán gù , wǒ jiù dài tā xià dào tā men de gōng huì qù ,

Bởi tôi muốn biết vì cớ nào họ cáo người, nên giải người đến tòa công luận.

便

biàn chá zhī tā bèi gào shì yīn tā men lǜ fǎ de biàn lùn , bìng méi yǒu shén me gāi sǐ gāi bǎng de zuì míng 。

Tôi thấy người bị cáo mấy việc về luật pháp họ, nhưng họ không kiện người về một tội nào đáng chết hay đáng tù cả.

。 」

hòu lái yǒu rén bǎ yào hài tā de jì móu gào sù wǒ , wǒ jiù lì shí jiě tā dào nǐ nà lǐ qù , yòu fēn fù gào tā de rén zài nǐ miàn qián gào tā 。 」

Song tôi có nghe người ta tính kế hại người nầy, nên lập tức sai người đến nơi quan, và cũng cho các kẻ cáo người biết rằng phải đến trước mặt quan mà đối nại.

yú shì , bīng dīng zhào suǒ fēn fù tā men de , jiāng bǎo luó yè lǐ dài dào ān tí pà dǐ 。

Vậy, quân lính đem Phao-lô đi, theo như mạng lịnh mình đã lãnh, và đang ban đêm, điệu đến thành An-ti-ba-tri.

dì èr tiān , ràng mǎ bīng hù sòng , tā men jiù huí yíng lóu qù 。

Sáng ngày, lính kỵ đi với người, còn quân khác trở về đồn.

便

mǎ bīng lái dào kǎi sā lì yà , bǎ wén shū chéng gěi xún fǔ , biàn jiào bǎo luó zhàn zài tā miàn qián 。

Những người nầy tới thành Sê-sa-rê, đưa thơ cho quan tổng đốc và đem nộp Phao-lô.

xún fǔ kàn le wén shū , wèn bǎo luó shì nǎ shěng de rén , jì xiǎo de tā shì jī lì jiā rén ,

Quan tổng đốc đọc thơ rồi, bèn hỏi Phao-lô vốn ở tỉnh nào, vừa biết người quê tỉnh Si-li-si,

:「」;便

jiù shuō :「 děng gào nǐ de rén lái dào , wǒ yào xì tīng nǐ de shì 」; biàn fēn fù rén bǎ tā kān shǒu zài xī lǜ de yá mén lǐ 。

thì rằng: Lúc nào bọn nguyên cáo đến đây, ta sẽ nghe ngươi. Đoạn, truyền giữ Phao-lô lại trong nơi công đàng Hê-rốt.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.