中文圣经

CÔNG VỤ 25

đã biết 0/245

fēi sī dōu dào le rèn , guò le sān tiān , jiù cóng kǎi sā lì yà shàng yē lù sā lěng qù 。

Phê-tu đã đến tỉnh mình được ba ngày rồi, thì ở thành Sê-sa-rê đi lên thành Giê-ru-sa-lem.

jì sī zhǎng hé yóu tài rén de shǒu lǐng xiàng tā kòng gào bǎo luó ,

Tại đó, có các thầy tế lễ cả và các người sang trọng trong dân Giu-đa đội đơn kiện Phao-lô trước mặt người;

yòu yāng gào tā , qiú tā de qíng , jiāng bǎo luó tí dào yē lù sā lěng lái , tā men yào zài lù shang mái fú shā hài tā 。

vì có ý nghịch, thì cố nài xin quan làm ơn đòi Phao-lô trở về thành Giê-ru-sa-lem: họ đặt âm mưu đặng giết người dọc đường.

:「」;

fēi sī dōu què huí dá shuō :「 bǎo luó yā zài kǎi sā lì yà , wǒ zì jǐ kuài yào wǎng nà lǐ qù 」;

Nhưng Phê-tu trả lời rằng Phao-lô bị giam tại thành Sê-sa-rê, và chính mình người sẽ kíp trở về thành đó.

:「。」

yòu shuō :「 nǐ men zhōng jiān yǒu quán shì de rén yǔ wǒ yì tóng xià qù , nà rén ruò yǒu shén me bú shì , jiù kě yǐ gào tā 。」

Lại nói rằng những người tôn trưởng trong các ngươi hãy xuống với ta, nếu người ấy có phạm tội gì thì hãy cứ kiện.

fēi sī dōu zài tā men nà lǐ zhù le bú guò shí tiān bā tiān , jiù xià kǎi sā lì yà qù ; dì èr tiān zuò táng , fēn fù jiāng bǎo luó tí shàng lái 。

Phê-tu ở cùng họ vừa tám hay là mười ngày mà thôi, đoạn trở xuống thành Sê-sa-rê; sáng ngày sau, người ngồi nơi tòa án và truyền dẫn Phao-lô đến.

bǎo luó lái le , nà xiē cóng yē lù sā lěng xià lái de yóu tài rén zhōu wéi zhàn zhe , jiāng xǔ duō chóng dà de shì kòng gào tā , dōu shì bù néng zhèng shí de 。

Phao-lô mới đến, thì có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng.

:「殿。」

bǎo luó fēn sù shuō :「 wú lùn yóu tài rén de lǜ fǎ , huò shì shèng diàn , huò shì kǎi sā , wǒ dōu méi yǒu gān fàn 。」

Còn Phao-lô nói đặng binh vực mình, rằng: Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sê-sa.

:「?」

dàn fēi sī dōu yào tǎo yóu tài rén de xǐ huan , jiù wèn bǎo luó shuō :「 nǐ yuàn yì shàng yē lù sā lěng qù , zài nà lǐ tīng wǒ shěn duàn zhè shì ma ?」

Nhưng Phê-tu muốn cho đẹp lòng dân Giu-đa, thì trả lời rằng: Ngươi có muốn lên thành Giê-ru-sa-lem chịu xử tại đó về những việc nầy trước mặt ta chăng?

:「

bǎo luó shuō :「 wǒ zhàn zài kǎi sā de táng qián , zhè jiù shì wǒ yīng dāng shòu shěn de dì fāng 。 wǒ xiàng yóu tài rén bìng méi yǒu xíng guò shén me bú yì de shì , zhè yě shì nǐ míng míng zhī dào de 。

Phao-lô bèn thưa rằng: Tôi ứng hầu trước mặt tòa án Sê-sa, ấy là nơi tôi phải chịu xử; tôi chẳng có lỗi chi với người Giu-đa, như chính mình quan biết rõ ràng.

。」

wǒ ruò xíng le bú yì de shì , fàn le shén me gāi sǐ de zuì , jiù shì sǐ , wǒ yě bù cí 。 tā men suǒ gào wǒ de shì ruò dōu bù shí , jiù méi yǒu rén kě yǐ bǎ wǒ jiāo gěi tā men 。 wǒ yào shàng gào yú kǎi sā 。」

Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa.

:「。」

fēi sī dōu hé yì huì shāng liáng le , jiù shuō :「 nǐ jì shàng gào yú kǎi sā , kě yǐ wǎng kǎi sā nà lǐ qù 。」

Kế đó, Phê-tu bàn tán với công hội mình, bèn trả lời rằng: Ngươi đã kêu nài Sê-sa, chắc sẽ đến nơi Sê-sa.

guò le xiē rì zǐ , yà jī pà wáng hé bǎi nī jī shì lái dào kǎi sā lì yà , wèn fēi sī dōu ān 。

Cách đó mấy ngày, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến thành Sê-sa-rê đặng chào Phê-tu.

:「

zài nà lǐ zhù le duō rì , fēi sī dōu jiāng bǎo luó de shì gào sù wáng , shuō :「 zhè lǐ yǒu yí gè rén , shì féi lì sī liú zài jiān lǐ de 。

Vì hai người ở lại đó mấy ngày, nên Phê-tu đem vụ Phao-lô trình với vua, rằng: Đây có một tên tù mà Phê-lít đã để lại.

wǒ zài yē lù sā lěng de shí hòu , jì sī zhǎng hé yóu tài de cháng lǎo jiàng tā de shì bǐng bào le wǒ , qiú wǒ dìng tā de zuì 。

Lúc tôi ở thành Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Giu-đa đến kiện người và xin tôi làm án người đi.

wǒ duì tā men shuō , wú lùn shén me rén , bèi gào hái méi yǒu hé yuán gào duì zhì , wèi dé jī huì fēn sù suǒ gào tā de shì , jiù xiān dìng tā de zuì , zhè bú shì luó mǎ rén de tiáo lì 。

Tôi đáp lại rằng người Rô-ma chẳng có lệ giải nộp một người nào mà bên bị cáo chưa đối nại với bên tiên cáo, và người đó chưa có cách thế để chống cãi lời kiện cáo mình.

便

jí zhì tā men dōu lái dào zhè lǐ , wǒ jiù bù dān yán , dì èr tiān biàn zuò táng , fēn fù bǎ nà rén tí shàng lái 。

Họ bèn đến đây, thì vừa ngày sau, tôi ra ngồi nơi tòa án, không trễ nải mà truyền dẫn người ấy đến.

gào tā de rén zhàn zhe gào tā ; suǒ gào de , bìng méi yǒu wǒ suǒ nì liào de nà děng è shì 。

Các người tiên cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng.

bú guò shì yǒu jǐ yàng biàn lùn , wèi tā men zì jǐ jìng guǐ shén de shì , yòu wèi yí gè rén míng jiào yē sū , shì yǐ jīng sǐ le , bǎo luó què shuō tā shì huó zhe de 。

Chỉ cáo nó về đạo riêng của họ, và một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống.

:『?』

zhè xiē shì dāng zěn yàng jiū wèn , wǒ xīn lǐ zuò nán , suǒ yǐ wèn tā shuō :『 nǐ yuàn yì shàng yē lù sā lěng qù , zài nà lǐ wèi zhè xiē shì tīng shěn ma ?』

Trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào, nên hỏi Phao-lô muốn đi đến thành Giê-ru-sa-lem, để chịu xử mọi điều ấy tại nơi đó chăng.

。」

dàn bǎo luó qiú wǒ liú xià tā , yào tīng huáng shàng shěn duàn , wǒ jiù fēn fù bǎ tā liú xià , děng wǒ jiě tā dào kǎi sā nà lǐ qù 。」

Nhưng nó đã kêu nài để việc kiện mình lại cho hoàng đế phân xử. Vậy tôi đã truyền giam nó trong ngục đợi tới khi tôi giải cho Sê-sa.

:「。」:「。」

yà jī pà duì fēi sī dōu shuō :「 wǒ zì jǐ yě yuàn tīng zhè rén biàn lùn 。」 fēi sī dōu shuō :「 míng tiān nǐ kě yǐ tīng 。」

Aïc-ríp-ba bèn nói với Phê-tu rằng: Ta cũng muốn nghe người ấy. Phê-tu tâu rằng: Đến mai vua sẽ nghe.

dì èr tiān , yà jī pà hé bǎi nī jī dà zhāng wēi shì ér lái , tóng zhe zhòng qiān fū cháng hé chéng lǐ de zūn guì rén jìn le gōng tīng 。 fēi sī dōu fēn fù yì shēng , jiù yǒu rén jiāng bǎo luó dài jìn lái 。

Vậy, qua bữa sau, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến cách long trọng, vào phòng xử kiện với quan quản cơ và các người tôn trưởng trong thành. Phê tu bèn truyền lịnh điệu Phao-lô đến.

:「:『。』

fēi sī dōu shuō :「 yà jī pà wáng hé zài zhè lǐ de zhū wèi a , nǐ men kàn zhè rén , jiù shì yí qiè yóu tài rén , zài yē lù sā lěng hé zhè lǐ , céng xiàng wǒ kěn qiú 、 hū jiào shuō :『 bù kě róng tā zài huó zhe 。』

Đoạn, Phê-tu rằng: Tâu vua Aïc-ríp-ba và hết thảy các ông có mặt tại đây, các ông đều thấy người nầy, vì cớ nó nên thay thảy dân chúng Giu-đa đến nài xin ơn tôi, tại thành Giê-ru-sa-lem và tôi đây cũng vậy, mà kêu lên rằng chẳng khá để cho nó sống nữa.

dàn wǒ chá míng tā méi yǒu fàn shén me gāi sǐ de zuì , bìng qiě tā zì jǐ shàng gào yú huáng dì , suǒ yǐ wǒ dìng yì bǎ tā jiě qù 。

Phần tôi, đã xét nó chẳng có làm điều gì đáng tội chết; và vì chính nó cũng đã kêu nài việc đó đến Sê-sa, nên tôi định giải nộp cho Sê-sa.

lùn dào zhè rén , wǒ méi yǒu què shí de shì kě yǐ zòu míng zhǔ shàng 。 yīn cǐ , wǒ dài tā dào nǐ men miàn qián , yě tè yì dài tā dào nǐ yà jī pà wáng miàn qián , wèi yào zài chá wèn zhī hòu yǒu suǒ chén zòu 。

Nhưng vì tôi không có điều chi quả quyết để làm sớ tâu hoàng đế về việc nó, nên đòi nó đến trước mặt các ông, nhất là trước mặt vua, là Aïc-ríp-ba, đặng khi tra hỏi rồi, tôi có điều để viết sớ.

。」

jù wǒ kàn lái , jiè sòng qiú fàn , bù zhǐ míng tā de zuì àn shì bù hé lǐ de 。」

Vả, tôi nghĩ rằng giải một tên phạm mà chẳng nói rõ điều người ta kiện nó, thì là trái lẽ lắm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.