中文圣经

ĐA-NIÊN 6

đã biết 0/288

dà liú shì suí xīn suǒ yuàn , lì yì bǎi èr shí gè zǒng dū , zhì lǐ tōng guó 。

Vua Đa-ri-út ưng đặt trong nước một trăm hai mươi quan trấn thủ, để chia nhau trị cả nước,

),使

yòu zài tā men yǐ shàng lì zǒng zhǎng sān rén ( dàn yǐ lǐ zài qí zhōng ), shǐ zǒng dū zài tā men sān rén miàn qián huí fù shì wù , miǎn de wáng shòu kuī sǔn 。

và trên họ có ba quan thượng thơ, mà một là Đa-ni-ên. Các quan trấn thủ phải khai trình với ba quan đó, hầu cho vua khỏi chịu một sự tổn hại nào.

yīn zhè dàn yǐ lǐ yǒu měi hǎo de líng xìng , suǒ yǐ xiǎn rán chāo hū qí yú de zǒng zhǎng hé zǒng dū , wáng yòu xiǎng lì tā zhì lǐ tōng guó 。

Vả, Đa-ni-ên lại trổi hơn hai quan thượng thơ kia và các quan trấn thủ, vì người có linh tánh tốt lành; thì vua định lập người trên cả nước.

nà shí , zǒng zhǎng hé zǒng dū xún zhǎo dàn yǐ lǐ wù guó de bǎ bǐng , wèi yào cān tā ; zhī shì zhǎo bù zhe tā de cuò wù guò shī , yīn tā zhōng xīn bàn shì , háo wú cuò wù guò shī 。

Các quan thượng thơ và trấn thủ bèn tìm cớ kiện Đa-ni-ên về việc nước; nhưng họ không thể tìm được một cớ nào, hay một sự xấu nào của người, bởi người là trung thành, trong người chẳng có điều lỗi và cũng chẳng có sự xấu.

便:「 。」

nà xiē rén biàn shuō :「 wǒ men yào zhǎo cān zhè dàn yǐ lǐ de bǎ bǐng , chú fēi zài tā shén de lǜ fǎ zhōng jiù xún bù zhe 。」

Vậy những người đó nói rằng: Chúng ta không tìm được một cớ nào mà cáo Đa-ni-ên nầy, nếu chúng ta chẳng tìm trong sự thuộc về luật pháp Đức Chúa Trời nó.

:「

yú shì , zǒng zhǎng hé zǒng dū fēn fēn jù jí lái jiàn wáng , shuō :「 yuàn dà liú shì wáng wàn suì !

Các quan thượng thơ và trấn thủ đó bèn vào chầu vua và tâu rằng: Hỡi vua Đa-ri-út, chúc vua sống đời đời!

guó zhōng de zǒng zhǎng 、 qīn chāi 、 zǒng dū 、 móu shì , hé xún fǔ bǐ cǐ shāng yì , yào lì yì tiáo jiān dìng de jìn lìng , sān shí rì nèi , bù jū hé rén , ruò zài wáng yǐ wài , huò xiàng shén huò xiàng rén qiú shén me , jiù bì rēng zài shī zi kēng zhōng 。

Hết thảy các quan thượng thơ trong nước, các quan lãnh binh, các quan trấn thủ, các nghị viên và các đại thần đều đồng tình xin vua ra chỉ dụ, lập một cấm lịnh nghiêm nhặt trong ba mươi ngày, hễ ai cầu xin thần nào hay một người nào ngoài vua, thì, hỡi vua, kẻ ấy sẽ phải quăng vào hang sư tử.

使。」

wáng a , xiàn zài qiú nǐ lì zhè jìn lìng , jiā gài yù xǐ , shǐ jìn lìng jué bú gēng gǎi ; zhào mǐ dǐ yà hé bō sī rén de lì shì bù kě gēng gǎi de 。」

Bây giờ hỡi vua, hãy lập điều cấm đó và ký tên vào, hầu cho không đổi thay đi, theo như luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, không thể đổi được.

yú shì dà liú shì wáng lì zhè jìn lìng , jiā gài yù xǐ 。

Vậy vua Đa-ri-út bèn ký tên lập cấm lịnh đó.

),

dàn yǐ lǐ zhī dào zhè jìn lìng gài le yù xǐ , jiù dào zì jǐ jiā lǐ ( tā lóu shàng de chuāng hù kāi xiàng yē lù sā lěng ), yí rì sān cì , shuāng xī guì zài tā shén miàn qián , dǎo gào gǎn xiè , yǔ sù cháng yí yàng 。

Khi Đa-ni-ên nghe rằng chỉ dụ đó đã ký tên rồi, thì về nhà mình (những cửa sổ của phòng người thì mở về hướng Giê-ru-sa-lem). Tại đó, cứ một ngày ba lần, người quì gối xuống, cầu nguyện, xưng tạ trước mặt Đức Chúa Trời mình, như vẫn làm khi trước.

nà xiē rén jiù fēn fēn jù jí , jiàn dàn yǐ lǐ zài tā shén miàn qián qí dǎo kěn qiú 。

Bấy giờ những người đó nhóm lại, thấy Đa-ni-ên đang cầu nguyện nài xin trước mặt Đức Chúa Trời mình.

便:「?」:「。」

tā men biàn jìn dào wáng qián , tí wáng de jìn lìng , shuō :「 wáng a , sān shí rì nèi bù jū hé rén , ruò zài wáng yǐ wài , huò xiàng shén huò xiàng rén qiú shén me , bì bèi rēng zài shī zǐ kēng zhōng 。 wáng bú shì zài zhè jìn lìng shàng gài le yù xǐ ma ?」 wáng huí dá shuō :「 shí yǒu zhè shì , zhào mǐ dǐ yà hé bō sī rén de lì shì bù kě gēng gǎi de 。」

Họ bèn đến chầu vua và tâu cùng vua về cấm lịnh của vua rằng: Hỡi vua, vua chẳng từng ký tên vào một cấm lịnh rằng trong ba mươi ngày, hễ ai cầu xin thần nào hay người nào ngoài vua, thì sẽ phải quăng vào hang sư tử đó chăng? Vua trả lời rằng: Sự đó là thật, theo như luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, không thể đổi được.

:「。」

tā men duì wáng shuō :「 wáng a , nà bèi lǔ zhī yóu dà rén zhōng de dàn yǐ lǐ bu lǐ nǐ , yě bù zūn nǐ gài le yù xǐ de jìn lìng , tā jìng yí rì sān cì qí dǎo 。」

Họ bèn đáp lại và tâu vua rằng: Đa-ni-ên, là một trong những con cái phu tù Giu-đa, không có lòng kiêng nể vua chút nào, hỡi vua, dầu đến cấm lịnh vua đã ký tên cũng vậy; song nó cứ một ngày cầu nguyện ba lần.

wáng tīng jiàn zhè huà , jiù shèn chóu fán , yì xīn yào jiù dàn yǐ lǐ , chóu huà jiě jiù tā , zhí dào rì luò de shí hòu 。

Khi vua nghe những lời đó, thì lấy làm buồn bã lắm; vua định lòng giải cứu Đa-ni-ên, và mãi đến khi mặt trời lặn, cố hết sức tìm thể để giải cứu người.

:「。」

nà xiē rén jiù fēn fēn jù jí lái jiàn wáng , shuō :「 wáng a , dāng zhī dào mǐ dǐ yà rén hé bō sī rén yǒu lì , fán wáng suǒ lì de jìn lìng hé lǜ lì dōu bù kě gēng gǎi 。」

Nhưng các người đó nhóm lại cùng vua và tâu rằng: Hỡi vua, xin biết rằng theo luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, hễ là cấm lịnh hay chỉ dụ nào mà vua đã lập định rồi, thì không thể thay đổi được.

:「 。」

wáng xià lìng , rén jiù bǎ dàn yǐ lǐ dài lái , rēng zài shī zi kēng zhōng 。 wáng duì dàn yǐ lǐ shuō :「 nǐ suǒ cháng shì fèng de shén , tā bì jiù nǐ 。」

Bấy giờ vua truyền điệu Đa-ni-ên đến, và phải ném người vào hang sư tử. Vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Đức Chúa Trời ngươi là Đấng ngươi hằng hầu việc, sẽ giải cứu ngươi.

使

yǒu rén bān shí tou fàng zài kēng kǒu , wáng yòng zì jǐ de xǐ hé dà chén de yìn , fēng bì nà kēng , shǐ chéng bàn dàn yǐ lǐ de shì háo wú gēng gǎi 。

Người ta bèn đem đến một hòn đá chận nơi cửa hang, và vua đóng ấn mình cùng ấn các đại thần nữa, hầu cho không có điều gì thay đổi được về Đa-ni-ên.

wáng huí gōng , zhōng yè jìn shí , wú rén ná yuè qì dào tā miàn qián , bìng qiě shuì bù zhe jué 。

Sau đó, vua trở về cung mình, và suốt đêm kiêng ăn, cũng không đem bạn nhạc đến trước mặt mình, và vua không ngủ được.

cì rì lí míng , wáng jiù qǐ lái , jí máng wǎng shī zi kēng nà lǐ qù 。

Đoạn, vua dậy sớm, khi hừng sáng, vội vàng đi đến hang sư tử.

:「 ?」

lín jìn kēng biān , āi shēng hū jiào dàn yǐ lǐ , duì dàn yǐ lǐ shuō :「 yǒng shēng shén de pú rén dàn yǐ lǐ a , nǐ suǒ cháng shì fèng de shén néng jiù nǐ tuō lí shī zi ma ?」

Khi vua đến gần hang, lấy giọng rầu rĩ mà kêu Đa-ni-ên; vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Hỡi Đa-ni-ên, tôi tớ Đức Chúa Trời hằng sống! Đức Chúa Trời ngươi mà ngươi hằng hầu việc có thể giải cứu ngươi khỏi sư tử được chăng?

:「

dàn yǐ lǐ duì wáng shuō :「 yuàn wáng wàn suì !

Bấy giờ Đa-ni-ên tâu cùng vua rằng: Hỡi vua, chúc vua sống đời đời!

使 。」

wǒ de shén chāi qiǎn shǐ zhě , fēng zhù shī zi de kǒu , jiào shī zi bù shāng wǒ ; yīn wǒ zài shén miàn qián wú gū , wǒ zài wáng miàn qián yě méi yǒu xíng guò kuī sǔn de shì 。」

Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư tử, nên chúng nó không làm hại chi đến tôi, bởi tôi đã được nhận là vô tội trước mặt Ngài. Hỡi vua, đối với vua cũng vậy, tôi chẳng từng làm hại gì.

wáng jiù shèn xǐ lè , fēn fù rén jiāng dàn yǐ lǐ cóng kēng lǐ xì shàng lái 。 yú shì dàn yǐ lǐ cóng kēng lǐ bèi xì shàng lái , shēn shàng háo wú shāng sǔn , yīn wèi xìn kào tā de shén 。

Bấy giờ vua mừng rỡ lắm, và truyền đem Đa-ni-ên lên khỏi hang. Vậy Đa-ni-ên được đem lên khỏi hang, và người ta không thấy một vết tích nào trên người, bởi người đã nhờ cậy Đức Chúa Trời mình.

wáng xià lìng , rén jiù bǎ nà xiē kòng gào dàn yǐ lǐ de rén , lián tā men de qī zǐ ér nǚ dōu dài lái , rēng zài shī zi kēng zhōng 。 tā men hái méi yǒu dào kēng dǐ , shī zi jiù zhuā zhù tā men , yǎo suì tā men de gǔ tou 。

Theo lịnh vua, những kẻ đã kiện Đa-ni-ên ấy cùng con cái và vợ họ đều bị điệu đến quăng vào hang sư tử. Khi họ chưa đến dưới đáy hang, thì những sư tử đã vồ lấy và xé xương hết thảy.

:「

nà shí , dà liú shì wáng chuán zhǐ , xiǎo yù zhù zài quán dì gè fāng 、 gè guó 、 gè zú de rén shuō :「 yuàn nǐ men dà xiǎng píng ān !

Bấy giờ, vua Đa-ri-út viết cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng ở khắp trên đất rằng: Nguyền cho sự bình an các ngươi được thêm lên!

xiàn zài wǒ jiàng zhǐ xiǎo yù wǒ suǒ tǒng xiá de quán guó rén mín , yào zài dàn yǐ lǐ de shén miàn qián , zhàn jīng kǒng jù 。 yīn wèi tā shì yǒng yuǎn cháng cún de huó shén , tā de guó yǒng bú bài huài ; tā de quán bǐng yǒng cún wú jí !

Ta ban chiếu chỉ rằng, trong khắp miền nước ta, người ta phải run rẩy kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên; vì Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống và còn đời đời. Nước Ngài không bao giờ bị hủy diệt, và quyền Ngài sẽ còn đến cuối cùng.

。」

tā hù bì rén , dā jiù rén , zài tiān shàng dì xià shī xíng shén jì qí shì , jiù le dàn yǐ lǐ tuō lí shī zi de kǒu 。」

Ngài cứu rỗi và giải thoát, làm những dấu lạ sự lạ ở trên trời dưới đất, đã cứu Đa-ni-ên khỏi quyền thế sư tử.

rú cǐ , zhè dàn yǐ lǐ , dāng dà liú shì wáng zài wèi de shí hòu hé bō sī wáng sāi lǔ shì zài wèi de shí hòu , dà xiǎng hēng tōng 。

Đa-ni-ên cứ được thạnh vượng như vậy trong đời vua Đa-ri-út và vua Si-ru là người Phe-rơ-sơ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.