中文圣经

PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ 25

đã biết 0/197

「 rén ruò yǒu zhēng sòng , lái tīng shěn pàn , shěn pàn guān jiù yào dìng yì rén yǒu lǐ , dìng è rén yǒu zuì 。

Khi nào người ta có tranh tụng nhau, đi đến tòa để cầu quan án xét đoán, thì phải định công bình cho người công bình, và lên án kẻ có tội.

è rén ruò gāi shòu zé dǎ , shěn pàn guān jiù yào jiào tā dāng miàn fú zài dì shàng , àn zhe tā de zuì zhào shù zé dǎ 。

Nhược bằng kẻ có tội đáng bị đánh đòn, quan án phải khiến người nằm xuống đất, đánh người trước mặt mình, số bao nhiêu đòn tùy theo lỗi của người đã phạm.

便

zhī kě dǎ tā sì shí xià , bù kě guò shù ; ruò guò shù , biàn shì qīng jiàn nǐ de dì xiong le 。

Quan án khiến đánh đòn người đến bốn chục, chớ đánh quá, kẻo nếu cứ đánh hơn, thì anh em ngươi vì cớ hình phạt thái quá ấy phải ra hèn trước mặt ngươi chăng.

。」

「 niú zài chǎng shàng chuài gǔ de shí hòu , bù kě lóng zhù tā de zuǐ 。」

Chớ khớp miệng con bò trong khi nó đạp lúa.

「 dì xiong tóng jū , ruò sǐ le yí gè , méi yǒu ér zi , sǐ rén de qī bù kě chū jià wài rén , tā zhàng fu de xiōng dì dāng jìn dì xiong de běn fèn , qǔ tā wèi qī , yǔ tā tóng fáng 。

Khi anh em ruột ở chung nhau, có một người chết không con, thì vợ của người chết chớ kết đôi cùng người ngoài; anh em chồng phải đi đến cùng nàng, cưới nàng làm vợ, y theo bổn phận của anh em chồng vậy.

fù rén shēng de zhǎng zǐ bì guī sǐ xiōng de míng xià , miǎn de tā de míng zài yǐ sè liè zhōng tú mǒ le 。

Con đầu lòng mà nàng sanh ra sẽ nối danh cho người anh em chết, hầu cho danh của người ấy chớ tuyệt khỏi Y-sơ-ra-ên.

:『。』

nà rén ruò bú yuàn yì qǔ tā gē gē de qī , tā gē ge de qī jiù yào dào chéng mén zhǎng lǎo nà lǐ , shuō :『 wǒ zhàng fu de xiōng dì bù kěn zài yǐ sè liè zhōng xīng qǐ tā gē ge de míng zì , bù gěi wǒ jìn dì xiong de běn fèn 。』

Ví bằng người kia không đẹp lòng lấy nàng, nàng phải lên đến cửa thành, tới cùng các trưởng lão mà nói rằng: người anh em chồng tôi không chịu lưu danh anh em người lại trong Y-sơ-ra-ên, và không muốn cưới tôi y theo phận sự anh em chồng.

:『』,

běn chéng de cháng lǎo jiù yào zhào nà rén lái wèn tā , tā ruò zhí yì shuō :『 wǒ bú yuàn yì qǔ tā 』,

Các trưởng lão của thành ấy sẽ gọi người và nói cùng người; nếu người cứ nói rằng: Tôi không đẹp lòng cưới nàng,

:『。』

tā gē ge de qī jiù yào dāng zhe zhǎng lǎo dào nà rén de gēn qián , tuō le tā de xié , tǔ tuò mò zài tā liǎn shàng , shuō :『 fán bú wèi gē ge jiàn lì jiā shì de dōu yào zhè yàng dài tā 。』

thì chị em dâu người sẽ đến gần, trước mặt các trưởng lão, lột giày khỏi chân người, khạc trên mặt người, đoạn cất tiếng nói rằng: Người nào không lập lại nhà anh em mình sẽ bị làm cho như vậy!

。」

zài yǐ sè liè zhōng , tā de míng bì chēng wéi tuō xié zhī jiā 。」

Trong Y-sơ-ra-ên sẽ gọi nhà người là nhà kẻ bị lột giày.

「 ruò yǒu èr rén zhēng dòu , zhè rén de qī jìn qián lái , yào jiù tā zhàng fu tuō lí nà dǎ tā zhàng fu zhī rén de shǒu , zhuā zhù nà rén de xià tǐ ,

Khi hai người đánh lộn nhau, nếu vợ của một trong hai người đến gần đặng giải cứu chồng khỏi tay kẻ đánh, và nàng giơ tay nắm nhằm chỗ kín của kẻ ấy,

jiù yào kǎn duàn fù rén de shǒu , yǎn bù kě gù xī tā 。

thì ngươi phải chặt tay nàng đi; mắt ngươi chớ thương xót nàng.

「 nǐ náng zhōng bù kě yǒu yí dà yì xiǎo liǎng yàng de fǎ mǎ 。

Trong bao ngươi chớ có hai thứ trái cân, một thứ già và một thứ non.

nǐ jiā lǐ bù kě yǒu yí dà yì xiǎo liǎng yàng de shēng dòu 。

Trong nhà ngươi chớ có hai thứ ê-pha, một thứ già và một thứ non.

dāng yòng duì zhǔn gōng píng de fǎ mǎ , gōng píng de shēng dòu 。 zhè yàng , zài yē hé huá — nǐ shén suǒ cì nǐ de dì shàng , nǐ de rì zi jiù kě yǐ cháng jiǔ 。

Phải dùng trái cân đúng thật và công bình, cũng phải có ê-pha đúng thật và công bình, để ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.

。」

yīn wèi xíng fēi yì zhī shì de rén dōu shì yē hé huá — nǐ shén suǒ zēng wù de 。」

Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm gớm ghiếc người nào làm các điều nầy và phạm sự bất nghĩa.

「 nǐ yào jì niàn nǐ men chū āi jí de shí hòu , yà mǎ lì rén zài lù shang zěn yàng dài nǐ 。

Hãy nhớ điều A-ma-léc đã làm cho ngươi dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô;

tā men zài lù shang yù jiàn nǐ , chèn nǐ pí fá kùn juàn jī shā nǐ jìn hòu biān ruǎn ruò de rén , bìng bú jìng wèi shén 。

thế nào người không kính sợ Đức Chúa Trời, đến đón ngươi trên đường, xông vào binh hậu ngươi, đánh các người yếu theo ngươi, trong khi chính mình ngươi mỏi mệt và nhọc nhằn.

使 。」

suǒ yǐ yē hé huá — nǐ shén shǐ nǐ bú bèi sì wéi yí qiè de chóu dí rǎo luàn , zài yē hé huá — nǐ shén cì nǐ wèi yè de dì shàng dé xiǎng píng ān 。 nà shí , nǐ yào jiāng yà mǎ lì de míng hào cóng tiān xià tú mǒ le , bù kě wàng jì 。」

Vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban sự bình an cho, và giải cứu ngươi khỏi mọi kẻ thù nghịch vây phủ ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp, thì phải xóa sự ghi nhớ A-ma-léc khỏi dưới trời. Chớ hề quên!

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.