中文圣经

XUẤT AI-CẬP 13

đã biết 0/206

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

。」

「 yǐ sè liè zhōng fán tóu shēng de , wú lùn shì rén shì shēng chù , dōu shì wǒ de , yào fēn bié wèi shèng guī wǒ 。」

Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên bất luận người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta.

西:「

mó xī duì bǎi xìng shuō :「 nǐ men yào jì niàn cóng āi jí wèi nú zhī jiā chū lái de zhè rì , yīn wèi yē hé huá yòng dà néng de shǒu jiāng nǐ men cóng zhè dì fāng lǐng chū lái 。 yǒu jiào de bǐng dōu bù kě chī 。

Môi-se nói cùng dân sự rằng: Hãy kỷ niệm ngày nầy, vì là ngày Đức Giê-hô-va dùng tay quyền năng rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ; nên chớ ai ăn bánh có men.

yà bǐ yuè jiān de zhè rì shì nǐ men chū lái de rì zi 。

Ngày nay, nhằm tháng lúa trỗ, các ngươi ra đi.

jiāng lái yē hé huá lǐng nǐ jìn jiā nán rén 、 hè rén 、 yà mó lì rén 、 xī wèi rén 、 yē bù sī rén zhī dì , jiù shì tā xiàng nǐ de zǔ zōng qǐ shì yīng xǔ gěi nǐ nà liú nǎi yǔ mì zhī dì , nà shí nǐ yào zài zhè yuè jiān shǒu zhè lǐ 。

Vậy khi nào Đức Giê-hô-va đưa ngươi vào bờ cõi xứ dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít rồi, là một xứ đượm sữa và mật, và là xứ Ngài đã thề cùng tổ phụ sẽ ban cho ngươi, thì đến trong tháng nầy hãy giữ lễ thánh đó.

nǐ yào chī wú jiào bǐng qī rì , dào dì qī rì yào xiàng yē hé huá shǒu jié 。

Trong bảy ngày hãy ăn bánh không men; đến ngày thứ bảy sẽ có lễ kính Đức Giê-hô-va.

zhè qī rì zhī jiǔ , yào chī wú jiào bǐng ; zài nǐ sì jìng zhī nèi bù kě jiàn yǒu jiào de bǐng , yě bù kě jiàn fā jiào de wù 。

Phải ăn bánh không men trong bảy ngày; khắp cả địa hạt ngươi sẽ không thấy bánh có men, hoặc men tại nơi ngươi nữa.

:『

dāng nà rì , nǐ yào gào sù nǐ de ér zǐ shuō :『 zhè shì yīn yē hé huá zài wǒ chū āi jí de shí hòu wèi wǒ suǒ xíng de shì 。

Trong ngày đó hãy giải nghĩa cho con trai ngươi rằng: Aáy vì việc Đức Giê-hô-va làm cho ta, khi ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

使

zhè yào zài nǐ shǒu shàng zuò jì hào , zài nǐ é shàng zuò jì niàn , shǐ yē hé huá de lǜ fǎ cháng zài nǐ kǒu zhōng , yīn wèi yē hé huá céng yòng dà néng de shǒu jiāng nǐ cóng āi jí lǐng chū lái 。

Điều đó sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, làm một kỷ niệm ghi nơi trán ở giữa cặp mắt ngươi, hầu cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở nơi miệng ngươi, vì Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

。』」

suǒ yǐ nǐ měi nián yào àn zhe rì qī shǒu zhè lì 。』」

Hằng năm, đến k”, ngươi phải giữ lễ nầy.

「 jiāng lái , yē hé huá zhào tā xiàng nǐ hé nǐ zǔ zōng suǒ qǐ de shì jiāng nǐ lǐng jìn jiā nán rén zhī dì , bǎ zhè dì cì gěi nǐ ,

Khi Đức Giê-hô-va đã đưa ngươi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, như Ngài đã thề cùng ngươi, và tổ phụ ngươi, khi Ngài đã ban xứ đó cho rồi,

nà shí nǐ yào jiāng yí qiè tóu shēng de , bìng shēng chù zhōng tóu shēng de , guī gěi yē hé huá ; gōng de dōu yào shǔ yē hé huá 。

thì hãy đem dâng cho Đức Giê-hô-va những con trưởng nam cùng cả con đầu lòng đực của súc vật ngươi, vì chúng nó đều sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va.

fán tóu shēng de lǘ , nǐ yào yòng yáng gāo dài shú ; ruò bú dài shú , jiù yào dǎ zhé tā de jǐng xiàng 。 fán nǐ ér zi zhōng tóu shēng de dōu yào shú chū lái 。

Nhưng mỗi con lừa đầu lòng, ngươi phải bắt chiên con hay là dê con mà chuộc; bằng không, ngươi hãy vặn cổ nó. Ngươi cũng chuộc mọi trưởng nam trong vòng con trai ngươi.

:『?』:『

rì hòu , nǐ de ér zi wèn nǐ shuō :『 zhè shì shén me yì sī ?』 nǐ jiù shuō :『 yē hé huá yòng dà néng de shǒu jiāng wǒ men cóng āi jí wèi nú zhī jiā lǐng chū lái 。

Vả, một mai con trai ngươi hỏi rằng: Điều đó có ý nghĩa chi? thì hãy đáp rằng: Aáy vì cớ Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là nhà nô lệ;

nà shí fǎ lǎo jī hū bù róng wǒ men qù , yē hé huá jiù bǎ āi jí dì suǒ yǒu tóu shēng de , wú lùn shì rén shì shēng chù , dōu shā le 。 yīn cǐ , wǒ bǎ yí qiè tóu shēng de gōng shēng chù xiàn gěi yē hé huá wèi jì , dàn jiāng tóu shēng de ér zi dōu shú chū lái 。

và khi Pha-ra-ôn cứng lòng không tha chúng ta đi, Ngài bèn giết hết các con đầu lòng trong xứ đó, từ con trưởng nam người ta cho đến con đầu lòng súc vật. Vì cớ đó, ta dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va mọi con đực sanh đầu lòng, và ta chuộc con trưởng nam trong vòng con trai ta.

。』」

zhè yào zài nǐ shǒu shàng zuò jì hào , zài nǐ é shàng zuò jīng wén , yīn wèi yē hé huá yòng dà néng de shǒu jiāng wǒ men cóng āi jí lǐng chū lái 。』」

Aáy sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, và ấn chí nơi trán giữa cặp mắt ngươi, để nhắc cho nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

:「。」

fǎ lǎo róng bǎi xìng qù de shí hòu , fēi lì shì dì de dào lù suī jìn , shén què bù lǐng tā men cóng nà lǐ zǒu ; yīn wèi shén shuō :「 kǒng pà bǎi xìng yù jiàn dǎ zhàng hòu huǐ , jiù huí āi jí qù 。」

Vả, khi Pha-ra-ôn tha dân Y-sơ-ra-ên đi, Đức Chúa Trời không dẫn dân ấy đi theo đường về xứ Phi-li-tin, là đường gần hơn hết, vì Ngài nói rằng: E khi dân thấy trận mạc, dời lòng trở về xứ Ê-díp-tô chăng.

suǒ yǐ shén lǐng bǎi xìng rào dào ér xíng , zǒu hóng hǎi kuàng yě de lù 。 yǐ sè liè rén chū āi jí dì , dōu dài zhe bīng qì shàng qù 。

Cho nên Đức Chúa Trời dẫn chúng đi vòng theo đường trong đồng vắng, về hướng Biển-dỏ. Dân Y-sơ-ra-ên cầm khí giới ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

西:「 。」

mó xī bǎ yuē sè de hái gǔ yì tóng dài qù ; yīn wèi yuē sè céng jiào yǐ sè liè rén yán yán dì qǐ shì , duì tā men shuō :「 shén bì juàn gù nǐ men , nǐ men yào bǎ wǒ de hái gǔ cóng zhè lǐ yì tóng dài shàng qù 。」

Môi-se dời hài cốt Giô-sép theo mình, vì Giô-sép có bắt dân Y-sơ-ra-ên thề quyết rằng: Chắc Đức Chúa Trời sẽ viếng các ngươi; hãy dời hài cốt ta theo các ngươi khỏi đây.

tā men cóng shū gē qǐ xíng , zài kuàng yě biān de yǐ tǎng ān yíng 。

Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại Ê-tam, ở cuối đầu đồng vắng.

使

rì jiān , yē hé huá zài yún zhù zhōng lǐng tā men de lù ; yè jiān , zài huǒ zhù zhōng guāng zhào tā men , shǐ tā men rì yè dōu kě yǐ xíng zǒu 。

Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm.

rì jiān yún zhù , yè jiān huǒ zhù , zǒng bù lí kāi bǎi xìng de miàn qián 。

Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.