中文圣经

XUẤT AI-CẬP 15

đã biết 0/280

西

nà shí , mó xī hé yǐ sè liè rén xiàng yē hé huá chàng gē shuō : wǒ yào xiàng yē hé huá gē chàng , yīn tā dà dà zhàn shèng , jiāng mǎ hé qí mǎ de tóu zài hǎi zhōng 。

Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.

yē hé huá shì wǒ de lì liàng , wǒ de shī gē , yě chéng le wǒ de zhěng jiù 。 zhè shì wǒ de shén , wǒ yào zàn měi tā , shì wǒ fù qīn de shén , wǒ yào zūn chóng tā 。

Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.

yē hé huá shì zhàn shì ; tā de míng shì yē hé huá 。

Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.

fǎ lǎo de chē liàng 、 jūn bīng , yē hé huá yǐ pāo zài hǎi zhōng ; tā tè xuǎn de jūn zhǎng dōu chén yú hóng hǎi 。

Ngài đã ném xuống biển binh xa Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan tướng kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển đỏ,

shēn shuǐ yān mò tā men ; tā men rú tóng shí tou zhuì dào shēn chù 。

Những lượn sóng đã vùi lấp họ rồi; Họ chìm đến đáy biển như một hòn đá vậy.

耀

yē hé huá a , nǐ de yòu shǒu shī zhǎn néng lì , xiǎn chū róng yào ; yē hé huá a , nǐ de yòu shǒu shuāi suì chóu dí 。

Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển thay. Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi.

nǐ dà fā wēi yán , tuī fān nà xiē qǐ lái gōng jī nǐ de ; nǐ fā chū liè nù rú huǒ , shāo miè tā men xiàng shāo suì jiē yí yàng 。

Bởi sự cả thể của oai nghiêm Ngài, Đánh đổ kẻ dấy nghịch cùng mình. Ngài nổi giận phừng phừng, Đốt họ cháy như rơm ra.

便

nǐ fā bí zhōng de qì , shuǐ biàn jù qǐ chéng duī , dà shuǐ zhí lì rú lěi , hǎi zhōng de shēn shuǐ níng jié 。

Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước bèn dồn lại, Lượn sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng lại nơi rún biển.

chóu dí shuō : wǒ yào zhuī gǎn , wǒ yào zhuī shàng ; wǒ yào fēn lǔ wù , wǒ yào zài tā men shēn shàng chēng wǒ de xīn yuàn 。 wǒ yào bá chū dāo lái , qīn shǒu shā miè tā men 。

Quân nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp Ta sẽ chia phân của giặc; Tâm hồn ta sẽ thỏa nguyện nơi họ; Ta rút gươm ra, tay ta hủy diệt họ.

nǐ jiào fēng yì chuī , hǎi jiù bǎ tā men yān mò ; tā men rú qiān chén zài dà shuǐ zhī zhōng 。

Ngài đã thở hơi ra Biển vùi lấp quân nghịch lại; Họ bị chìm như cục chì Nơi đáy nước sâu.

yē hé huá a , zhòng shén zhī zhōng , shuí néng xiàng nǐ ? shuí néng xiàng nǐ — zhì shèng zhì róng , kě sòng kě wèi , shī xíng qí shì ?

Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài. Đáng sợ, đáng khen Hay làm các phép lạ?

便

nǐ shēn chū yòu shǒu , dì biàn tūn miè tā men 。

Ngài đã đưa tay hữu ra, Đất đã nuốt chúng nó.

nǐ píng cí ài lǐng le nǐ suǒ shú de bǎi xìng ; nǐ píng néng lì yǐn tā men dào le nǐ de shèng suǒ 。

Ngài lấy lòng thương xót dìu dắt Dân nầy mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng năng lực đưa nó Về nơi ở thánh của Ngài.

wài bāng rén tīng jiàn jiù fā chàn ; téng tòng zhuā zhù fēi lì shì de jū mín 。

Các dân tộc nghe biết việc nầy đều run sợ, Cơn kinh hãi áp-hãm dân xứ Pha-lê-tin.

nà shí , yǐ dōng de zú zhǎng jīng huáng , mó yā de yīng xióng bèi zhàn jīng zhuā zhù , jiā nán de jū mín xīn dōu xiāo huà le 。

Các quan trưởng xứ Ê-đôm bèn lấy làm bối rối; Mấy mặt anh hùng nơi Mô-áp đều kinh hồn; Cả dân Ca-na-an đều mất vía

jīng hài kǒng jù lín dào tā men 。 yē hé huá a , yīn nǐ bǎng bì de dà néng , tā men rú shí tou jì rán bú dòng , děng hòu nǐ de bǎi xìng guò qù , děng hòu nǐ suǒ shú de bǎi xìng guò qù 。

Sự hoảng hốt kinh hãi giáng cho chúng nó; Hỡi Đức Giê-hô-va! vì quyền cao nơi cánh tay Ngài, Chúng nó đều bị câm như đá, Cho đến chừng nào dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi.

nǐ yào jiāng tā men lǐng jìn qù , zāi yú nǐ chǎn yè de shān shàng — yē hé huá a , jiù shì nǐ wèi zì jǐ suǒ zào de zhù chù ; zhǔ a , jiù shì nǐ shǒu suǒ jiàn lì de shèng suǒ 。

Hỡi Đức Giê-hô-va! Ngài đưa dân ấy vào, và lập nơi núi cơ nghiệp Ngài, Tức là chốn Ngài đã sắm sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi Chúa! là đền thánh mà tay Ngài đã lập.

yē hé huá bì zuò wáng , zhí dào yǒng yǒng yuǎn yuǎn !

Đức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp kiếp.

使

fǎ lǎo de mǎ pǐ 、 chē liàng , hé mǎ bīng xià dào hǎi zhōng , yē hé huá shǐ hǎi shuǐ huí liú , yān mò tā men ; wéi yǒu yǐ sè liè rén zài hǎi zhōng zǒu gān dì 。

Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người đã xuống biển; Và Đức Giê-hô-va đã vùi dập nước biển lên trên, Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như đi trên đất cạn.

yà lún de zǐ zǐ , nǚ xiān zhī mǐ lì àn , shǒu lǐ ná zhe gǔ ; zhòng fù nǚ yě gēn tā chū qù ná gǔ tiào wǔ 。

Nữ tiên tri Mi-ri-am, là em gái A-rôn, tay cầm trống cơm, các đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.

mǐ lì àn yìng shēng shuō : nǐ men yào gē sòng yē hé huá , yīn tā dà dà zhàn shèng , jiāng mǎ hé qí mǎ de tóu zài hǎi zhōng 。

Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.

西

mó xī lǐng yǐ sè liè rén cóng hóng hǎi wǎng qián xíng , dào le shū ěr de kuàng yě , zài kuàng yě zǒu le sān tiān , zhǎo bù zhe shuǐ 。

Đoạn, Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên đi khỏi Biển đỏ, đến nơi đồng vắng Su-rơ; trọn ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả.

dào le mǎ lā , bù néng hē nà lǐ de shuǐ ; yīn wèi shuǐ kǔ , suǒ yǐ nà dì míng jiào mǎ lā 。

Kế đến đất Ma-ra, nhưng vì nước tại đó đắng, uống chẳng được, nên chi chỗ nầy gọi là Ma-ra.

西:「?」

bǎi xìng jiù xiàng mó xī fā yuàn yán , shuō :「 wǒ men hē shén me ne ?」

Dân sự bèn oán trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống?

西

mó xī hū qiú yē hé huá , yē hé huá zhǐ shì tā yì kē shù 。 tā bǎ shù diū zài shuǐ lǐ , shuǐ jiù biàn tián le 。 yē hé huá zài nà lǐ wèi tā men dìng le lǜ lì 、 diǎn zhāng , zài nà lǐ shì yàn tā men ;

Môi-se kêu van Đức Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt. Aáy tại đó, Đức Giê-hô-va định luật lệ cùng lập pháp độ cho dân sự, và tại đó Ngài thử họ.

:「 。」

yòu shuō :「 nǐ ruò liú yì tīng yē hé huá — nǐ shén de huà , yòu xíng wǒ yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì , liú xīn tīng wǒ de jiè mìng , shǒu wǒ yí qiè de lǜ lì , wǒ jiù bù jiāng suǒ jiā yǔ āi jí rén de jí bìng jiā zài nǐ shēn shàng , yīn wèi wǒ — yē hé huá shì yī zhì nǐ de 。」

Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi.

tā men dào le yǐ lín , zài nà lǐ yǒu shí èr gǔ shuǐ quán , qī shí kē zōng shù ; tā men jiù zài nà lǐ de shuǐ biān ān yíng 。

Đoạn, dân sự đến đất Ê-lim; nơi đó có mười hai suối nước, và bảy mươi cây chà là; dân sự đóng trại tại đó, gần bên suối nước.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.