中文圣经

XUẤT AI-CẬP 32

đã biết 0/289

西:「西。」

bǎi xìng jiàn mó xī chí yán bú xià shān , jiù dà jiā jù jí dào yà lún nà lǐ , duì tā shuō :「 qǐ lái ! wèi wǒ men zuò shén xiàng , kě yǐ zài wǒ men qián miàn yǐn lù ; yīn wèi lǐng wǒ men chū āi jí dì de nà ge mó xī , wǒ men bù zhī dào tā zāo le shén me shì 。」

Dân sự thấy Môi-se ở trên núi chậm xuống, bèn nhóm lại chung quanh A-rôn mà nói rằng: Nào! hãy làm các thần để đi trước chúng tôi đi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi.

:「。」

yà lún duì tā men shuō :「 nǐ men qù zhāi xià nǐ men qī zǐ 、 ér nǚ ěr shàng de jīn huán , ná lái gěi wǒ 。」

A-rôn đáp rằng: Hãy lột những vòng vàng đeo nơi tai vợ, con trai và con gái các ngươi đi, rồi đem lại cho ta.

bǎi xìng jiù dōu zhāi xià tā men ěr shàng de jīn huán , ná lái gěi yà lún 。

Hết thảy đều lột vòng vàng nơi tai mình mà đem lại cho A-rôn;

:「。」

yà lún cóng tā men shǒu lǐ jiē guò lái , zhù le yì zhī niú dú , yòng diāo kè de qì jù zuò chéng 。 tā men jiù shuō :「 yǐ sè liè a , zhè shì lǐng nǐ chū āi jí dì de shén 。」

người nhận lấy nơi tay họ, và dùng đục làm thành một bò con đúc. Dân chúng nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

:「。」

yà lún kàn jiàn , jiù zài niú dú miàn qián zhù tán , qiě xuān gào shuō :「 míng rì yào xiàng yē hé huá shǒu jié 。」

A-rôn thấy vậy, bèn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò đó; đoạn, người la lên rằng: Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Đức Giê-hô-va!

cì rì qīng zǎo , bǎi xìng qǐ lái xiàn fán jì hé píng ān jì , jiù zuò xià chī hē , qǐ lái wán shuǎ 。

Sáng mai dân chúng bèn thức dậy sớm, dâng các của lễ thiêu và lễ thù ân; ngồi mà ăn uống, đoạn đứng dậy mà vui chơi.

西:「

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :「 xià qù ba , yīn wèi nǐ de bǎi xìng , jiù shì nǐ cóng āi jí dì lǐng chū lái de , yǐ jīng bài huài le 。

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy xuống đi, vì dân mà ngươi đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã bại hoại rồi,

:『。』」

tā men kuài kuài piān lí le wǒ suǒ fēn fù de dào , wèi zì jǐ zhù le yì zhī niú dú , xiàng tā xià bài xiàn jì , shuō :『 yǐ sè liè a , zhè jiù shì lǐng nǐ chū āi jí dì de shén 。』」

vội bỏ đạo ta truyền dạy, đúc một con bò tơ, mọp trước tượng bò đó và dâng của lễ cho nó mà nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là các thần đã dẫn ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô!

西:「

yē hé huá duì mó xī shuō :「 wǒ kàn zhè bǎi xìng zhēn shì yìng zhe jǐng xiàng de bǎi xìng 。

Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Ta đã xem thấy dân nầy, kìa là một dân cứng cổ.

使。」

nǐ qiě yóu zhe wǒ , wǒ yào xiàng tā men fā liè nù , jiāng tā men miè jué , shǐ nǐ de hòu yì chéng wéi dà guó 。」

Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.

西便 :「

mó xī biàn kěn qiú yē hé huá — tā de shén shuō :「 yē hé huá a , nǐ wèi shén me xiàng nǐ de bǎi xìng fā liè nù ne ? zhè bǎi xìng shì nǐ yòng dà lì hé dà néng de shǒu cóng āi jí dì lǐng chū lái de 。

Môi-se bèn nài xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời người rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, sao nổi thạnh nộ cùng dân Ngài? là dân mà Ngài đã dùng quyền lớn lao mạnh mẽ đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

使』?

wèi shén me shǐ āi jí rén yì lùn shuō 『 tā lǐng tā men chū qù , shì yào jiàng huò yǔ tā men , bǎ tā men shā zài shān zhōng , jiāng tā men cóng dì shàng chú miè 』? qiú nǐ zhuǎn yì , bù fā nǐ de liè nù , hòu huǐ , bú jiàng huò yǔ nǐ de bǎi xìng 。

Sao để cho người Ê-díp-tô nói rằng: Ngài đưa chúng nó ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong núi, cùng diệt chúng nó khỏi mặt đất? Cầu xin Chúa hãy nguôi cơn giận và bỏ qua điều tai họa mà Ngài muốn giáng cho dân Ngài.

:『使。』」

qiú nǐ jì niàn nǐ de pú rén yà bó lā hǎn 、 yǐ sā 、 yǐ sè liè 。 nǐ céng zhǐ zhe zì jǐ qǐ shì shuō :『 wǒ bì shǐ nǐ men de hòu yì xiàng tiān shàng de xīng nà yàng duō , bìng qiě wǒ suǒ yīng xǔ de zhè quán dì , bì gěi nǐ men de hòu yì , tā men yào yǒng yuǎn chéng shòu wèi yè 。』」

Xin Chúa hãy nhớ lại Aùp-ra-ham, Y-sác, Y-sơ-ra-ên, là các tôi tớ Ngài, mà Ngài có chỉ mình thề cùng họ rằng: Ta sẽ thêm dòng dõi các ngươi lên nhiều như sao trên trời, ta sẽ ban cho dòng dõi đó cả xứ mà ta chỉ phán, và họ sẽ được xứ ấy làm cơ nghiệp đời đời.

yú shì yē hé huá hòu huǐ , bù bǎ suǒ shuō de huò jiàng yǔ tā de bǎi xìng 。

Đức Giê-hô-va bèn bỏ qua điều tai họa mà Ngài nói rằng sẽ giáng cho dân mình.

西

mó xī zhuǎn shēn xià shān , shǒu lǐ ná zhe liǎng kuài fǎ bǎn 。 zhè bǎn shì liǎng miàn xiě de , zhè miàn nà miàn dōu yǒu zì ,

Đoạn, Môi-se ở trên núi trở xuống, tay cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai bên, mặt nầy và mặt kia.

shì shén de gōng zuò , zì shì shén xiě de , kè zài bǎn shàng 。

Hai bảng đó là việc của Đức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên bảng.

西:「。」

yuē shū yà yì tīng jiàn bǎi xìng hū hǎn de shēng yīn , jiù duì mó xī shuō :「 zài yíng lǐ yǒu zhēng zhàn de shēng yīn 。」

Vả, Giô-suê nghe dân chúng la lên, bèn nói cùng Môi-se rằng: Trong trại quân có tiếng chiến đấu.

西:「。」

mó xī shuō :「 zhè bú shì rén dǎ shèng zhàng de shēng yīn , yě bú shì rén dǎ bài zhàng de shēng yīn ; wǒ suǒ tīng jiàn de nǎi shì rén gē chàng de shēng yīn 。」

Môi-se đáp rằng: Chẳng phải tiếng kêu về thắng trận, cũng chẳng phải tiếng kêu về thua trận; nhưng ta nghe tiếng kẻ hát.

西便

mó xī āi jìn yíng qián jiù kàn jiàn niú dú , yòu kàn jiàn rén tiào wǔ , biàn fā liè nù , bǎ liǎng kuài bǎn rēng zài shān xià shuāi suì le ,

Khi đến gần trại quân, Môi-se thấy bò con và sự nhảy múa, bèn nổi giận, liệng hai bảng chứng khỏi tay mình, bể ra nơi chân núi;

yòu jiāng tā men suǒ zhù de niú dú yòng huǒ fén shāo , mó dé fěn suì , sā zài shuǐ miàn shàng , jiào yǐ sè liè rén hē 。

đoạn lấy bò con của chúng đã đúc đem đốt trong lửa, rồi nghiền cho đến thành ra bụi, rải trên mặt nước, và cho dân Y-sơ-ra-ên uống.

西:「使!」

mó xī duì yà lún shuō :「 zhè bǎi xìng xiàng nǐ zuò le shén me ? nǐ jìng shǐ tā men xiàn zài dà zuì lǐ !」

Môi-se bèn nói cùng A-rôn rằng: Dân nầy làm chi anh, mà anh xui cho chúng phạm tội nặng dường ấy?

:「

yà lún shuō :「 qiú wǒ zhǔ bú yào fā liè nù 。 zhè bǎi xìng zhuān yú zuò è , shì nǐ zhī dào de 。

A-rôn đáp rằng: Xin chúa tôi đừng nổi giận, chúa biết rằng dân nầy chuyên làm điều ác!

:『西。』

tā men duì wǒ shuō :『 nǐ wèi wǒ men zuò shén xiàng , kě yǐ zài wǒ men qián miàn yǐn lù ; yīn wèi lǐng wǒ men chū āi jí dì de nà ge mó xī , wǒ men bù zhī dào tā zāo le shén me shì 。』

Họ có nói cùng tôi rằng: Hãy làm các thần đi trước chúng tôi; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.

:『』,便。」

wǒ duì tā men shuō :『 fán yǒu jīn huán de kě yǐ zhāi xià lái 』, tā men jiù gěi le wǒ 。 wǒ bǎ jīn huán rēng zài huǒ zhōng , zhè niú dú biàn chū lái le 。」

Tôi bèn nói cùng chúng rằng: Ai có vàng hãy lột ra! Họ bèn đưa cho tôi, tôi bỏ vào lửa, và bởi đó thành ra bò con nầy.

西使),

mó xī jiàn bǎi xìng fàng sì ( yà lún zòng róng tā men , shǐ tā men zài chóu dí zhōng jiān bèi jī cì ),

Vả, Môi-se thấy dân sự buông lung, vì A-rôn để họ buông lung, đến đỗi bị sỉ nhục trong vòng các thù nghịch,

:「!」

jiù zhàn zài yíng mén zhōng , shuō :「 fán shǔ yē hé huá de , dōu yào dào wǒ zhè lǐ lái !」 yú shì lì wèi de zǐ sūn dōu dào tā nà lǐ jù jí 。

thì người đứng nơi cửa trại quân mà nói rằng: Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến cùng ta đây! Hết thảy người Lê-vi đều nhóm lại gần bên người.

:「 :『。』」

tā duì tā men shuō :「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén zhè yàng shuō :『 nǐ men gè rén bǎ dāo kuà zài yāo jiān , zài yíng zhōng wǎng lái , cóng zhè mén dào nà mén , gè rén shā tā de dì xiong yǔ tóng bàn bìng lín shè 。』」

Người truyền cho họ rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Mỗi người trong các ngươi hãy đeo gươm bên mình, đi qua đi lại trong trại quân, từ cửa nầy đến cửa kia, và mỗi người hãy giết anh em, bạn hữu, và kẻ lân cận mình.

西

lì wèi de zǐ sūn zhào mó xī de huà xíng le 。 nà yì tiān bǎi xìng zhōng bèi shā de yuē yǒu sān qiān 。

Dân Lê-vi bèn làm y như lời Môi-se; trong ngày đó có chừng ba ngàn người bị chết.

西:「使。」

mó xī shuō :「 jīn tiān nǐ men yào zì jié , guī yē hé huá wèi shèng , gè rén gōng jī tā de ér zi hé dì xiong , shǐ yē hé huá cì fú yǔ nǐ men 。」

Vả, Môi-se đã truyền rằng: Ngày nay mỗi người trong vòng các ngươi hãy dâng tay mình cho Đức Giê-hô-va, chẳng sá chi đến con trai hay là anh em mình, hầu cho các ngươi được ơn phước vậy.

西:「。」

dào le dì èr tiān , mó xī duì bǎi xìng shuō :「 nǐ men fàn le dà zuì 。 wǒ rú jīn yào shàng yē hé huá nà lǐ qù , huò zhě kě yǐ wéi nǐ men shú zuì 。」

Ngày mai, Môi-se nói cùng dân sự rằng: Các ngươi đã phạm một tội rất trọng; song bây giờ ta lên đến Đức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ được chuộc tội các ngươi chăng.

西:「

mó xī huí dào yē hé huá nà lǐ , shuō :「 ài ! zhè bǎi xìng fàn le dà zuì , wèi zì jǐ zuò le jīn xiàng 。

Vậy, Môi-se trở lên đến Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Oâi! dân sự nầy có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng;

......。」

tǎng huò nǐ kěn shè miǎn tā men de zuì ...... bù rán , qiú nǐ cóng nǐ suǒ xiě de cè shàng tú mǒ wǒ de míng 。」

nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi sách Ngài đã chép đi.

西:「

yē hé huá duì mó xī shuō :「 shuí dé zuì wǒ , wǒ jiù cóng wǒ de cè shàng tú mǒ shuí de míng 。

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Kẻ nào phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta.

使。」

xiàn zài nǐ qù lǐng zhè bǎi xìng , wǎng wǒ suǒ gào sù nǐ de dì fāng qù , wǒ de shǐ zhě bì zài nǐ qián miàn yǐn lù ; zhǐ shì dào wǒ zhuī tǎo de rì zi , wǒ bì zhuī tǎo tā men de zuì 。」

Bây giờ, hãy đi, dẫn dân sự đến nơi ta đã chỉ phán. Nầy thiên sứ ta sẽ đi trước ngươi; nhưng ngày nào ta hình phạt thì sẽ phạt tội chúng nó.

yē hé huá shā bǎi xìng de yuán gù shì yīn tā men tóng yà lún zuò le niú dú 。

Đức Giê-hô-va hành phạt dân sự là vậy, vì dân sự là gốc phạm về tượng bò vàng mà A-rôn đã làm ra.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.