中文圣经

XUẤT AI-CẬP 7

đã biết 0/169

西:「使

yē hé huá duì mó xī shuō :「 wǒ shǐ nǐ zài fǎ lǎo miàn qián dài tì shén , nǐ de gē ge yà lún shì tì nǐ shuō huà de 。

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy xem, ta lập ngươi như là Đức Chúa Trời cho Pha-ra-ôn, còn A-rôn, anh ngươi, sẽ làm kẻ tiên tri của ngươi.

fán wǒ suǒ fēn fù nǐ de , nǐ dōu yào shuō 。 nǐ de gē ge yà lún yào duì fǎ lǎo shuō , róng yǐ sè liè rén chū tā de dì 。

Hãy nói lại mọi lời ta sẽ truyền dạy ngươi, rồi A-rôn, anh ngươi, sẽ tâu cùng Pha-ra-ôn, đặng người thả dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.

使

wǒ yào shǐ fǎ lǎo de xīn gāng yìng , yě yào zài āi jí dì duō háng shén jì qí shì 。

Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và thêm nhiều dấu lạ phép k” của ta trong xứ Ê-díp-tô.

dàn fǎ lǎo bì bù tīng nǐ men ; wǒ yào shēn shǒu zhòng zhòng dì xíng fá āi jí , jiāng wǒ de jūn duì yǐ sè liè mín cóng āi jí dì lǐng chū lái 。

Nhưng Pha-ra-ôn sẽ chẳng nghe các ngươi đâu; ta sẽ tra tay vào đất Ê-díp-tô, dùng những sự đoán-phạt nằng-nề, đặng rút khỏi xứ đó các quân đội ta, là dân Y-sơ-ra-ên.

。」

wǒ shēn shǒu gōng jī āi jí , jiāng yǐ sè liè rén cóng tā men zhōng jiān lǐng chū lái de shí hòu , āi jí rén jiù yào zhī dào wǒ shì yē hé huá 。」

Khi nào ta tra tay vào xứ Ê-díp-tô mà rút dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa vòng người Ê-díp-tô, thì họ sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.

西

mó xī 、 yà lún zhè yàng xíng ; yē hé huá zěn yàng fēn fù tā men , tā men jiù zhào yàng xíng le 。

Môi-se và A-rôn bèn làm y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn.

西西

mó xī 、 yà lún yǔ fǎ lǎo shuō huà de shí hòu , mó xī bā shí suì , yà lún bā shí sān suì 。

Vả, khi hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, thì Môi-se tuổi đã được tám mươi, còn A-rôn tám mươi ba.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī 、 yà lún shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:

:『!』:『使。』」

「 fǎ lǎo ruò duì nǐ men shuō :『 nǐ men xíng jiàn qí shì ba !』 nǐ jiù fēn fù yà lún shuō :『 bǎ zhàng diū zài fǎ lǎo miàn qián , shǐ zhàng biàn zuò shé 。』」

Khi nào Pha-ra-ôn truyền cho các ngươi: Hãy làm phép lạ đi, thì ngươi sẽ nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy gậy của anh, liệng trước mặt Pha-ra-ôn, gậy sẽ hóa thành một con rắn.

西

mó xī 、 yà lún jìn qù jiàn fǎ lǎo , jiù zhào yē hé huá suǒ fēn fù de xíng 。 yà lún bǎ zhàng diū zài fǎ lǎo hé chén pú miàn qián , zhàng jiù biàn zuò shé 。

Vậy, Môi-se và A-rôn đến cùng Pha-ra-ôn và làm như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn. A-rôn liệng cây gậy mình trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, gậy liền hóa thành một con rắn.

yú shì fǎ lǎo zhào le bó shì hé shù shì lái ; tā men shì āi jí xíng fǎ shù de , yě yòng xié shù zhào yàng ér xíng 。

Còn Pha-ra-ôn bèn đòi các bác sĩ và thầy phù chú, là những thuật-sĩ Ê-díp-tô; phần họ, cũng cậy phép phù chú mình mà làm giống in như vậy.

tā men gè rén diū xià zì jǐ de zhàng , zhàng jiù biàn zuò shé ; dàn yà lún de zhàng tūn le tā men de zhàng 。

Mỗi người liệng gậy mình, liền hóa thành rắn; nhưng gậy của A-rôn nuốt các gậy của họ.

西

fǎ lǎo xīn lǐ gāng yìng , bù kěn tīng cóng mó xī 、 yà lún , zhèng rú yē hé huá suǒ shuō de 。

Thế mà lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, chẳng nghe Môi-se và A-rôn, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

西:「

yē hé huá duì mó xī shuō :「 fǎ lǎo xīn lǐ gù zhí , bù kěn róng bǎi xìng qù 。

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Pha-ra-ôn đã rắn lòng, từ chối không để cho dân sự đi.

míng rì zǎo chén , tā chū lái wǎng shuǐ biān qù , nǐ yào wǎng hé biān yíng jiē tā , shǒu lǐ yào ná zhe nà biàn guò shé de zhàng ,

Sớm mai Pha-ra-ôn sẽ ngự ra bờ sông, ngươi hãy ra mắt người và cầm theo tay cây gậy đã biến ra con rắn đó.

:『

duì tā shuō :『 yē hé huá — xī bó lái rén de shén dǎ fā wǒ lái jiàn nǐ , shuō : róng wǒ de bǎi xìng qù , hǎo zài kuàng yě shì fèng wǒ 。 dào rú jīn nǐ hái shì bù tīng 。

Ngươi hãy tâu rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, sai tôi đến gần bệ hạ, đặng tâu rằng: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta trong đồng vắng; mà đến bây giờ ngươi không nghe ta chút nào.

yē hé huá zhè yàng shuō : wǒ yào yòng wǒ shǒu lǐ de zhàng jī dǎ hé zhōng de shuǐ , shuǐ jiù biàn zuò xuè ; yīn cǐ , nǐ bì zhī dào wǒ shì yē hé huá 。

Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Vì việc nầy, ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va: Nầy ta lấy gậy trong tay ta mà đập nước ở dưới sông, nước sẽ trở nên huyết.

。』」

hé lǐ de yú bì sǐ , hé yě yào xīng chòu , āi jí rén jiù yào yàn wù chī zhè hé lǐ de shuǐ 。』」

Cá dưới sông sẽ chết, và sông sẽ hôi thúi đi; người Ê-díp-tô uống nước sông lấy làm ghê gớm.

西:「:『。』」

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :「 nǐ duì yà lún shuō :『 bǎ nǐ de zhàng shēn zài āi jí suǒ yǒu de shuǐ yǐ shàng , jiù shì zài tā men de jiāng 、 hé 、 chí 、 táng yǐ shàng , jiào shuǐ dōu biàn zuò xuè 。 zài āi jí biàn dì , wú lùn zài mù qì zhōng , shí qì zhōng , dōu bì yǒu xuè 。』」

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Cầm lấy cây gậy anh, giơ tay ra trên nước xứ Ê-díp-tô, trên rạch, sông, bàu, và khắp mọi nơi có nước trong xứ, hầu cho nước hóa thành huyết; cả xứ Ê-díp-tô, và trong những bình chứa nước bằng gỗ, bằng đá đều sẽ có huyết hết thảy.

西

mó xī 、 yà lún jiù zhào yē hé huá suǒ fēn fù de xíng 。 yà lún zài fǎ lǎo hé chén pú yǎn qián jǔ zhàng jī dǎ hé lǐ de shuǐ , hé lǐ de shuǐ dōu biàn zuò xuè le 。

Vậy, Môi-se và A-rôn bèn làm y như lời Đức Giê-hô-va đã dặn mình. Trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập nước sông, hết thảy nước sông bèn hóa thành huyết.

hé lǐ de yú sǐ le , hé yě xīng chòu le , āi jí rén jiù bù néng chī zhè hé lǐ de shuǐ ; āi jí biàn dì dōu yǒu le xuè 。

Cá dưới sông chết, nước sông hôi-thúi, người Ê-díp-tô không thể uống được; vậy, huyết lan khắp cả xứ Ê-díp-tô.

西

āi jí xíng fǎ shù de , yě yòng xié shù zhào yàng ér xíng 。 fǎ lǎo xīn lǐ gāng yìng , bù kěn tīng mó xī 、 yà lún , zhèng rú yē hé huá suǒ shuō de 。

Song các thuật sĩ cậy phù chú mình cũng làm được như vậy, lòng Pha-ra-ôn cứng cỏi, không nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

fǎ lǎo zhuǎn shēn jìn gōng , yě bù bǎ zhè shì fàng zài xīn shàng 。

Pha-ra-ôn xây đi về đền mình, lòng chẳng để về mấy điều đó chút nào.

āi jí rén dōu zài hé de liǎng biān wā dì , yào dé shuǐ hē , yīn wèi tā men bù néng hē zhè hé lǐ de shuǐ 。

Vả, vì hết thảy người Ê-díp-tô uống nước sông chẳng được, nên đào xung quanh sông tìm nước mà uống.

yē hé huá jī dǎ hé yǐ hòu mǎn le qī tiān 。

Sau khi Đức Giê-hô-va đập sông thì được bảy ngày.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.