中文圣经

Ê-XÊ-CHIÊN 34

đã biết 0/263

yē hé huá de huà lín dào wǒ shuō :

Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:

「 rén zǐ a , nǐ yào xiàng yǐ sè liè de mù rén fā yù yán , gōng jī tā men , shuō , zhǔ yē hé huá rú cǐ shuō : huò zāi ! yǐ sè liè de mù rén zhī zhī mù yǎng zì jǐ 。 mù rén qǐ bù dāng mù yǎng qún yáng ma ?

Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri, và bảo những kẻ chăn ấy rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn nạn cho kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên, là kẻ chỉ nuôi mình! Há chẳng phải những kẻ chăn nên cho bầy chiên ăn sao?

穿

nǐ men chī zhī yóu 、 chuān yáng máo 、 zǎi féi zhuàng de , què bú mù yǎng qún yáng 。

Các ngươi ăn mỡ, mặc lông chiên, giết những con chiên mập, mà các ngươi không cho bầy chiên ăn!

shòu ruò de , nǐ men méi yǒu yǎng zhuàng ; yǒu bìng de , nǐ men méi yǒu yī zhì ; shòu shāng de , nǐ men méi yǒu chán guǒ ; bèi zhú de , nǐ men méi yǒu lǐng huí ; shī sàng de , nǐ men méi yǒu xún zhǎo ; dàn yòng qiáng bào yán yán dì xiá zhì 。

Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất; song các ngươi lại lấy sự độc dữ gay gắt mà cai trị chúng nó.

便

yīn wú mù rén , yáng jiù fēn sàn ; jì fēn sàn , biàn zuò le yí qiè yě shòu de shí wù 。

Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng.

wǒ de yáng zài zhū shān jiān 、 zài gè gāo gāng shàng liú lí , zài quán dì shàng fēn sàn , wú rén qù xún , wú rén qù zhǎo 。

Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.

「 suǒ yǐ , nǐ men zhè xiē mù rén yào tīng yē hé huá de huà 。

Vậy nên, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:

zhǔ yē hé huá shuō : wǒ zhǐ zhe wǒ de yǒng shēng qǐ shì , wǒ de yáng yīn wú mù rén jiù chéng wéi lüè wù , yě zuò le yí qiè yě shòu de shí wù 。 wǒ de mù rén bù xún zhǎo wǒ de yáng ; zhè xiē mù rén zhī zhī mù yǎng zì jǐ , bìng bú mù yǎng wǒ de yáng 。

Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật như ta hằng sống, vì tại không có kẻ chăn, nên những chiên ta đã làm mồi, và đã trở nên đồ ăn của mọi loài thú ngoài đồng, những kẻ chăn của ta cũng không tìm kiếm chiên ta, nhưng chúng nó chỉ nuôi mình mà không chăn nuôi chiên ta,

suǒ yǐ nǐ men zhè xiē mù rén yào tīng yē hé huá de huà 。

vì cớ đó, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:

使。」

zhǔ yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ bì yǔ mù rén wéi dí , bì xiàng tā men de shǒu zhuī tǎo wǒ de yáng , shǐ tā men bú zài mù fàng qún yáng ; mù rén yě bú zài mù yǎng zì jǐ 。 wǒ bì jiù wǒ de yáng tuō lí tā men de kǒu , bú zài zuò tā men de shí wù 。」

Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ chăn đó; ta sẽ đòi lại chiên của ta nơi tay chúng nó; ta không để cho chúng nó chăn chiên của ta nữa, và chúng nó cũng không thể tự chăn nuôi lấy mình nữa; nhưng ta sẽ móc chiên ta ra khỏi miệng chúng nó, hầu cho chiên không làm đồ ăn cho chúng nó.

「 zhǔ yē hé huá rú cǐ shuō : kàn nǎ , wǒ bì qīn zì xún zhǎo wǒ de yáng , jiāng tā men xún jiàn 。

Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, chính ta, tức là ta, sẽ kiếm chiên ta, ta sẽ tìm nó ra.

mù rén zài yáng qún sì sàn de rì zi zěn yàng xún zhǎo tā de yáng , wǒ bì zhào yàng xún zhǎo wǒ de yáng 。 zhè xiē yáng zài mì yún hēi àn de rì zi sàn dào gè chù , wǒ bì cóng nà lǐ jiù huí tā men lái 。

Ví như kẻ chăn tìm bầy mình ra, trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng sẽ tìm chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó đã bị tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.

wǒ bì cóng wàn mín zhōng lǐng chū tā men , cóng gè guó nèi jù jí tā men , yǐn dǎo tā men guī huí gù tǔ , yě bì zài yǐ sè liè shān shàng — yí qiè xī shuǐ páng biān 、 jìng nèi yí qiè kě jū zhī chù — mù yǎng tā men 。

Ta sẽ đem chúng nó ra khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất riêng chúng nó. Ta sẽ chăn chúng nó trên các núi của Y-sơ-ra-ên, kề khe nước, và trong mọi nơi có dân cư trong nước.

wǒ bì zài měi hǎo de cǎo chǎng mù yǎng tā men 。 tā men de quān bì zài yǐ sè liè gāo chù de shān shàng , tā men bì zài jiā měi zhī quān zhōng tǎng wò , yě zài yǐ sè liè shān féi měi de cǎo chǎng chī cǎo 。

Ta sẽ chăn chúng nó trong những đồng cỏ tốt, và chuồng chúng nó sẽ ở trên các núi nơi đất cao của Y-sơ-ra-ên; ở đó chúng nó sẽ nghỉ trong chuồng tử tế, và ăn cỏ trong đồng cỏ màu mỡ, tức là trên các núi của Y-sơ-ra-ên.

使

zhǔ yē hé huá shuō : wǒ bì qīn zì zuò wǒ yáng de mù rén , shǐ tā men dé yǐ tǎng wò 。

Aáy chính ta sẽ chăn chiên ta và cho chúng nó nằm nghỉ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

shī sàng de , wǒ bì xún zhǎo ; bèi zhú de , wǒ bì lǐng huí ; shòu shāng de , wǒ bì chán guǒ ; yǒu bìng de , wǒ bì yī zhì ; zhǐ shì féi de zhuàng de , wǒ bì chú miè , yě yào bǐng gōng mù yǎng tā men 。

Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó.

「 wǒ de yáng qún nǎ , lùn dào nǐ men , zhǔ yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ bì zài yáng yǔ yáng zhōng jiān 、 gōng mián yáng yǔ gōng shān yáng zhōng jiān shī xíng pàn duàn 。

Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Còn như bay, hỡi bầy chiên ta, nầy, ta xét đoán giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực.

nǐ men zhè xiē féi zhuàng de yáng , zài měi hǎo de cǎo chǎng chī cǎo hái yǐ wéi xiǎo shì ma ? shèng xià de cǎo , nǐ men jìng yòng tí jiàn tà le ; nǐ men hē qīng shuǐ , shèng xià de shuǐ , nǐ men jìng yòng tí jiǎo hún le 。

Bay ăn trong vườn cỏ xinh tốt, mà lại lấy chân giày đạp những cỏ còn lại; đã uống những nước trong, lại lấy chân vậy đục nước còn thừa; bay há chẳng coi sự đó là việc nhỏ mọn sao?

zhì yú wǒ de yáng , zhī dé chī nǐ men suǒ jiàn tà de , hē nǐ men suǒ jiǎo hún de 。

Còn những chiên ta thì phải ăn cỏ chân bay đã giày đạp, và uống nước chân bay đã vấy đục!

「 suǒ yǐ , zhǔ yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ bì zài féi yáng hé shòu yáng zhōng jiān shī xíng pàn duàn 。

Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta, chính ta, sẽ xét đoán giữa những chiên mập và chiên gầy.

使

yīn wèi nǐ men yòng xié yòng jiān yōng jǐ yí qiè shòu ruò de , yòu yòng jué dǐ chù , yǐ zhì shǐ tā men sì sàn 。

Vì bay lấy hông lấy vai mà xốc, lấy sừng mà vích mọi chiên con có bịnh, cho đến chừng bay đã làm tan lạc chúng nó ra ngoài,

suǒ yǐ , wǒ bì zhěng jiù wǒ de qún yáng bú zài zuò lüè wù ; wǒ yě bì zài yáng hé yáng zhōng jiān shī xíng pàn duàn 。

nên ta sẽ đến cứu bầy chiên ta, chúng nó sẽ không làm mồi nữa, và ta sẽ xét đoán giữa chiên và chiên.

wǒ bì lì yí mù rén zhào guǎn tā men , mù yǎng tā men , jiù shì wǒ de pú rén dà wèi 。 tā bì mù yǎng tā men , zuò tā men de mù rén 。

Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ ta. Aáy là người sẽ chăn chúng nó, người sẽ làm kẻ chăn chúng nó.

wǒ — yē hé huá bì zuò tā men de shén , wǒ de pú rén dà wèi bì zài tā men zhōng jiàn zuò wáng 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, còn Đa-vít, tôi tớ ta, sẽ làm vua giữa chúng nó. Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán vậy.

使

「 wǒ bì yǔ tā men lì píng ān de yuē , shǐ è shòu cóng jìng nèi duàn jué , tā men jiù bì ān jū zài kuàng yě , tǎng wò zài lín zhōng 。

Bấy giờ ta sẽ kết với chiên ta một giao ước hòa bình. Ta sẽ làm cho những thú dữ trong đất dứt đi, đặng dân ta có thể ở yên ổn trong đồng vắng và ngủ trong rừng.

使

wǒ bì shǐ tā men yǔ wǒ shān de sì wéi chéng wéi fú yuán , wǒ yě bì jiào shí yǔ luò xià , bì yǒu fú rú gān lín ér jiàng 。

Ta sẽ làm cho chúng nó với các miền chung quanh đồi ta nên nguồn phước. Ta sẽ khiến mưa sa nơi mùa thuận tiện, ấy sẽ là cơn mưa của phước lành.

tián yě de shù bì jié guǒ , dì yě bì yǒu chū chǎn ; tā men bì zài gù tǔ ān rán jū zhù 。 wǒ zhé duàn tā men suǒ fù de è , jiù tā men tuō lí nà yǐ tā men wèi nú zhī rén de shǒu ; nà shí , tā men jiù zhī dào wǒ shì yē hé huá 。

Cây ngoài đồng sẽ ra trái, và đất sẽ sanh hoa lợi. Chúng nó sẽ ở yên trong đất mình, và sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã bẻ gãy những đòn của ách chúng nó, và đã giải cứu chúng nó ra khỏi tay những kẻ bắt chúng nó phục dịch.

tā men bì bú zài zuò wài bāng rén de lüè wù , dì shàng de yě shòu yě bú zài tūn chī tā men ; què yào ān rán jū zhù , wú rén jīng xià 。

Chúng nó sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa; những loài thú của đất sẽ chẳng nuốt chúng nó nữa; chúng nó sẽ ở yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi.

wǒ bì gěi tā men xīng qǐ yǒu míng de zhí wù ; tā men zài jìng nèi bú zài wèi jī huāng suǒ miè , yě bú zài shòu wài bāng rén de xiū rǔ ,

Ta sẽ sắm vườn có danh tiếng cho chúng nó, chúng nó sẽ không chết đói trong đất mình nữa, và cũng không còn chịu sự hổ nhuốc của các nước nữa.

bì zhī dào wǒ 、 yē hé huá — tā men de shén shì yǔ tā men tóng zài de , bìng zhī dào tā men — yǐ sè liè jiā shì wǒ de mín 。 zhè shì zhǔ yē hé huá shuō de 。

Chúng nó sẽ biết ta, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chúng nó, ở cùng chúng nó, và biết nhà Y-sơ-ra-ên chúng nó là dân ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

。」

nǐ men zuò wǒ de yáng , wǒ cǎo chǎng shàng de yáng , nǎi shì yǐ sè liè rén , wǒ yě shì nǐ men de shén 。 zhè shì zhǔ yē hé huá shuō de 。」

Bay là chiên của ta, là chiên của đồng cỏ ta; bay là loài người, và ta là Đức Chúa Trời bay, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.