中文圣经

E-XƠ-RA 4

đã biết 0/261

便 殿

yóu dà hé biàn yǎ mǐn de dí rén tīng shuō bèi lǔ guī huí de rén wéi yē hé huá — yǐ sè liè de shén jiàn zào diàn yǔ ,

Khi các thù nghịch của Giu-đa và Bên-gia-min hay rằng những người đã bị bắt làm phu tù được về cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,

:「 。」

jiù qù jiàn suǒ luó bā bó hé yǐ sè liè de zú zhǎng , duì tā men shuō :「 qǐng róng wǒ men yǔ nǐ men yì tóng jiàn zào ; yīn wèi wǒ men xún qiú nǐ men de shén , yǔ nǐ men yí yàng 。 zì cóng yà shù wáng yǐ sā hā dùn dài wǒ men shàng zhè dì yǐ lái , wǒ men cháng jì sì shén 。」

bèn đi đến Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc mà nói rằng: Chúng tôi muốn đồng xây cất với các ngươi, vì chúng tôi tìm cầu Đức Chúa Trời của anh em, cũng như anh em, và chúng tôi đã tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sa-Ha-đôn, vua A-si-ri, đem chúng tôi lên đây.

:「 殿 。」

dàn suǒ luó bā bó 、 yē shū yà , hé qí yú yǐ sè liè de zú zhǎng duì tā men shuō :「 wǒ men jiàn zào shén de diàn yǔ nǐ men wú gān , wǒ men zì jǐ wèi yē hé huá — yǐ sè liè de shén xié lì jiàn zào , shì zhào bō sī wáng sāi lǔ shì suǒ fēn fù de 。」

Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, và các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên, đáp với chúng rằng: Các ngươi chẳng được phần chung với chúng ta đặng cất một đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng ta; song chúng ta, chỉ một mình chúng ta, sẽ cất một đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, y như Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, đã truyền bảo chúng ta.

使

nà dì de mín , jiù zài yóu dà rén jiàn zào de shí hòu , shǐ tā men de shǒu fā ruǎn , rǎo luàn tā men ;

Bấy giờ dân của xứ xui cho dân Giu-đa ngã lòng nhát sợ, trong khi họ xây cất;

贿

cóng bō sī wáng sāi lǔ shì nián jiān , zhí dào bō sī wáng dà liú shì dēng jī de shí hòu , huì mǎi móu shì , yào bài huài tā men de móu suàn 。

và trọn đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, cho đến đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ, trị vì, chúng đem hối lộ cho những mưu sĩ chống với dân Giu-đa, đặng phá việc họ lo toan.

zài yà hā suí lǔ cái dēng jī de shí hòu , shàng běn kòng gào yóu dà hé yē lù sā lěng de jū mín 。

Nhằm đời A-suê-ru, vừa bắt đầu lên ngôi, thì chúng làm một cái trạng cáo dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.

西西

yà dá xuē xī nián jiān , bǐ shī lán 、 mǐ tè lì dá 、 tā bié , hé tā men de tóng dǎng shàng běn zòu gào bō sī wáng yà dá xuē xī 。 běn zhāng shì yòng yà lán wén zì , yà lán fāng yán 。

Qua đời Aït-ta-xét-xe, thì Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên, và đồng liêu của chúng, viết biểu tấu lên Aït-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ. Cái biểu ấy viết bằng chữ A-ram và dịch ra tiếng A-ram.

西

shěng zhǎng lì hóng 、 shū jì shēn shuài yào kòng gào yē lù sā lěng rén , yě shàng běn zòu gào yà dá xuē xī wáng 。

Lại Rê-hum, tể tướng, và Sim-sai, thơ ký, đồng viết biểu nghịch cùng Giê-ru-sa-lem, tấu lên vua Aït-ta-xét-xe như vầy:

shěng zhǎng lì hóng 、 shū jì shēn shuài , hé tóng dǎng de dǐ ná rén 、 yà fǎ sà tí jiā rén 、 tā pí lā rén 、 yà fǎ sā rén 、 yà jī wèi rén 、 bā bǐ lún rén 、 shū shān jiā rén 、 dǐ hài rén 、 yǐ lán rén ,

Rê-hum, tể tướng, Sim-sai, thơ ký và các đồng liêu của họ, tức là người Đi-nít, người A-phạt-sa-thít, người Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người Aït-kê-vít, người Ba-by-lôn, người Su-san, người Đê-ha-vít, người Ê-lam,

西

hé zūn dà de yà sī nà bā suǒ qiān yí 、 ān zhì zài sā mǎ lì yà chéng , bìng dà hé xī yí dài dì fāng de rén děng ,

và dân sự khác mà Ô-náp-ba cao trọng và vang hiển đã đem qua, khiến ở trong thành Sa-ma-ri và trong các miền khác bên phía nầy sông.

西:「西

shàng zòu yà dá xuē xī wáng shuō :「 hé xī de chén mín yún yún :

Nầy là bản sao lại của bức biểu chúng gởi tấu vua Aït-ta-xét-xe. Các tôi tớ vua ở bên phía nầy sông, kính tấu vua Aït-ta-xét-xe.

wáng gāi zhī dào , cóng wáng nà lǐ shàng dào wǒ men zhè lǐ de yóu dà rén , yǐ jīng dào yē lù sā lěng chóng jiàn zhè fǎn pàn è liè de chéng , zhù lì gēn jī , jiàn zào chéng qiáng 。

Tâu vua hay rõ ràng những người Giu-đa đã từ nơi vua lên đến chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem, đang lập lại thành phản nghịch hung ác ấy; chúng nó đã xây lại vách thành và tu bổ các nền cho xong rồi.

rú jīn wáng gāi zhī dào , tā men ruò jiàn zào zhè chéng , chéng qiáng wán bì jiù bú zài yǔ wáng jìn gòng , jiāo kè , nà shuì , zhōng jiǔ wáng bì shòu kuī sǔn 。

Vậy, nguyện vua biết rõ ràng ví bằng thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất dân nó sẽ chẳng tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền mãi lộ, rồi sau chắc sẽ gây họa cho vua.

wǒ men jì shí yù yán , bù rěn jiàn wáng chī kuī , yīn cǐ zòu gào yú wáng 。

Vả, vì chúng tôi ăn muối của đền vua, và chẳng nỡ chứng kiến việc gây thiệt hại cho vua như vậy, nên chúng tôi sai sứ giả đến tâu rõ cùng vua,

qǐng wáng kǎo chá xiān wáng de shí lù , bì zài qí shàng chá zhī zhè chéng shì fǎn pàn de chéng , yǔ liè wáng hé gè shěng yǒu hài ; zì gǔ yǐ lái , qí zhōng cháng yǒu bèi nì de shì , yīn cǐ zhè chéng céng bèi chāi huǐ 。

đặng người ta tra khảo trong sử ký các tổ phụ vua: tất sẽ tìm thấy trong sách sử ký đó và biết rằng cái thành nầy vốn một cái thành phản nghịch, gây thiệt hại cho các vua và nước; từ thuở xưa, người ta hay làm loạn ở đó; bởi cớ ấy thành nầy đã bị phá hoang.

西。」

wǒ men jǐn zòu wáng zhī , zhè chéng ruò zài jiàn zào , chéng qiáng wán bì , hé xī zhī dì wáng jiù wú fēn le 。」

Chúng tôi tâu cáo vua hay rằng nếu thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất tại cớ ấy, đất ở phía bên nầy sông sẽ chẳng còn phục vua nữa.

西:「

nà shí wáng yù fù shěng zhǎng lì hóng 、 shū jì shēn shuài , hé tā men de tóng dǎng , jiù shì zhù sā mǎ lì yà bìng hé xī yí dài dì fāng de rén , shuō :「 yuàn nǐ men píng ān yún yún 。

Vua bèn giáng chiếu cho tể tướng Rê-hum, cho thơ ký Sim-sai, và cho các đồng liêu của họ ở tại Sa-ma-ri và ở trong các miền khác phía bên nầy sông, mà rằng: Nguyện các ngươi bình yên.

nǐ men suǒ shàng de běn , yǐ jīng míng dú zài wǒ miàn qián 。

Bức biểu các ngươi dâng tấu lên ta đã đọc ra tỏ tường trước mặt ta.

wǒ yǐ mìng rén kǎo chá , dé zhī cǐ chéng gǔ lái guǒ rán bèi pàn liè wáng , qí zhōng cháng yǒu fǎn pàn bèi nì de shì 。

Cứ theo mạng lịnh ta, người ta đã tra khảo, thấy rằng từ đời xưa cái thành nầy có dấy loạn với các vua, và trong nó hằng có sự phản nghịch và việc ngụy đảng.

西

cóng qián yē lù sā lěng yě yǒu dà jūn wáng tǒng guǎn hé xī quán dì , rén jiù gěi tā men jìn gòng , jiāo kè , nà shuì 。

Lại tại Giê-ru-sa-lem đã có những vua rất quyền thế, quản hạt cả xứ ở bên kia sông, và người ta tiến cống, nộp thuế, và đóng tiền mãi lộ cho các vua đó.

使

xiàn zài nǐ men yào chū gào shì mìng zhè xiē rén tíng gōng , shǐ zhè chéng bù dé jiàn zào , děng wǒ jiàng zhǐ 。

Vì vậy, các ngươi hãy truyền lịnh ngăn cản những người đó cất lại cái thành nầy, cho đến chừng ta ban chiếu chỉ về việc đó.

使?」

nǐ men dāng jǐn shèn , bù kě chí yán , wèi hé róng hài jiā zhòng , shǐ wáng shòu kuī sǔn ne ?」

Khá cẩn thận về sự nầy, e các vua bị thiệt hại thêm chăng.

西

yà dá xuē xī wáng de shàng yù dú zài lì hóng hé shū jì shēn shuài , bìng tā men de tóng dǎng miàn qián , tā men jiù jí máng wǎng yē lù sā lěng qù jiàn yóu dà rén , yòng shì lì qiǎng pò tā men tíng gōng 。

Vừa khi đã đọc chiếu của vua Aït-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thơ ký, Sim-sai và các đồng liêu họ, thì chúng đồng lật đật đi đến dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, lấy năng lực và cường quyền khiến họ ngưng công việc.

殿

yú shì , zài yē lù sā lěng shén diàn de gōng chéng jiù tíng zhǐ le , zhí tíng dào bō sī wáng dà liú shì dì èr nián 。

Vậy, công việc xây cất nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đình cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ trị vì.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.