中文圣经

E-XƠ-RA 3

đã biết 0/203

dào le qī yuè , yǐ sè liè rén zhù zài gè chéng ; nà shí tā men rú tóng yì rén , jù jí zài yē lù sā lěng 。

Đến tháng bảy, khi dân Y-sơ-ra-ên đã ở trong bổn thành mình rồi, thì dân sự hiệp lại như một người ở tại Giê-ru-sa-lem.

西

yuē sà dá de ér zi yē shū yà hé tā de dì xiong zhòng jì sī , bìng sā lā tiě de ér zi suǒ luó bā bó yǔ tā de dì xiong , dōu qǐ lái jiàn zhù yǐ sè liè shén de tán , yào zhào shén rén mó xī lǜ fǎ shū shàng suǒ xiě de , zài tán shàng xiàn fán jì 。

Bấy giờ, Giê-sua, con trai của Giô-sa-đác, và các anh em người, là thầy tế lễ, luôn với Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và các anh em người, đều chổi dậy xây cất bàn thờ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đặng dâng của lễ thiêu tại đó, theo như đã chép trong luật pháp Môi-se, người của Đức chúa Trời.

tā men zài yuán yǒu de gēn jī shàng zhù tán , yīn jù pà lín guó de mín , yòu zài qí shàng xiàng yē hé huá zǎo wǎn xiàn fán jì ,

Chúng sợ hãi dân của xứ, nên lập lại bàn thờ trên nền cũ nó, và dâng tại đó của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tức là của lễ thiêu buổi sớm và buổi chiều.

yòu zhào lǜ fǎ shū shàng suǒ xiě de shǒu zhù péng jié , àn shù zhào lì xiàn měi rì suǒ dāng xiàn de fán jì ;

Chúng cũng giữ lễ lều tạm, y như đã chép, và dâng những của lễ thiêu ngày nầy kế ngày kia, theo số đã định cho mỗi ngày.

qí hòu xiàn cháng xiàn de fán jì , bìng zài yuè shuò yǔ yē hé huá de yí qiè shèng jié xiàn jì , yòu xiàng yē hé huá xiàn gè rén de gān xīn jì 。

Sau ấy, chúng dâng những của lễ thiêu hằng hiến, luôn những của lễ về lễ trăng non và về các ngày lễ trọng thể biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va; lại dâng các của lễ của mỗi người lạc ý dâng cho Đức Giê-hô-va.

殿

cóng qī yuè chū yī rì qǐ , tā men jiù xiàng yē hé huá xiàn fán jì 。 dàn yē hé huá diàn de gēn jī shàng wèi lì dìng 。

Từ ngày mồng một tháng bảy, chúng khởi dâng những của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va; nhưng chưa có xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.

西使

tā men yòu jiāng yín zi gěi shí jiàng 、 mù jiàng , bǎ liáng shí 、 jiǔ 、 yóu gěi xī dùn rén 、 tài ěr rén , shǐ tā men jiāng xiāng bǎi shù cóng lí bā nèn yùn dào hǎi lǐ , fú hǎi yùn dào yuē pà , shì zhào bō sī wáng sāi lǔ shì suǒ yǔn zhǔn de 。

Chúng phân cấp tiền bạc cho thợ đẽo đá và cho thợ mộc, luôn những lương thực, rượu, và dầu cho dân Si-đôn và dân Ty-rơ, đặng sai họ đem gỗ bá hương từ Li-ban đến biển Gia-phô, tùy theo chiếu của Si-ru, vua Phe-rơ-sơ.

殿殿

bǎi xìng dào le yē lù sā lěng shén diàn de dì fāng 。 dì èr nián èr yuè , sā lā tiě de ér zi suǒ luó bā bó , yuē sà dá de ér zi yē shū yà hé qí yú de dì xiong , jiù shì jì sī 、 lì wèi rén , bìng yí qiè bèi lǔ guī huí yē lù sā lěng de rén , dōu xīng gōng jiàn zào ; yòu pài lì wèi rén , cóng èr shí suì yǐ wài de , dū lǐ jiàn zào yē hé huá diàn de gōng zuò 。

Năm thứ hai tháng hai, sau khi chúng đến đền của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con của Giô-xa-đác, với các anh em khác của họ, là những thầy tế lễ, người Lê-vi, cùng hết thảy những người bị bắt làm phu tù được trở về Giê-ru-sa-lem, đều khởi làm công việc xây cất đền thờ; chúng đặt người Lê-vi, từ hai mươi tuổi sắp lên, đặng cai quản công việc xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va.

殿

yú shì yóu dà de hòu yì , jiù shì yē shū yà hé tā de zǐ sūn yǔ dì xiong , jiǎ miè hé tā de zǐ sūn , lì wèi rén xī ná dá de zǐ sūn yǔ dì xiong , dōu yì tóng qǐ lái , dū lǐ nà zài shén diàn zuò gōng de rén 。

Bấy giờ, Giê-sua, các con trai người và anh em người, Cát-mi-ên và các con trai người, con cháu Hô-đa-via và con cháu Hê-na-đát, là người Lê-vi, với con trai và anh em của họ, đều chổi dậy đồng hiệp nhau như một, mà quản đốc những người làm việc trong nhà của Đức Chúa Trời.

殿穿

jiàng rén lì yē hé huá diàn gēn jī de shí hòu , jì sī jiē chuān lǐ fú chuī hào , yà sà de zǐ sūn lì wèi rén qiāo bó , zhào yǐ sè liè wáng dà wèi suǒ dìng de lì , dōu zhàn zhe zàn měi yē hé huá 。

Khi các thợ xây nền đền của Đức Giê-hô-va, thì có những thầy tế lễ đứng đó mặc áo lễ và cầm kèn, còn những người Lê-vi, con cháu A-sáp, đều cầm chập chỏa, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va y như các lễ-phép của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đã lập ra.

殿

tā men bǐ cǐ chàng hè , zàn měi chēng xiè yē hé huá shuō : tā běn wèi shàn , tā xiàng yǐ sè liè rén yǒng fā cí ài 。 tā men zàn měi yē hé huá de shí hòu , zhòng mín dà shēng hū hǎn , yīn yē hé huá diàn de gēn jī yǐ jīng lì dìng 。

Chúng ca hát đối đáp mà ngợi khen cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là tốt lành, lòng thương xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời! Cả dân sự đều kêu reo tiếng lớn, ngợi khen Đức Giê-hô-va, bởi vì người ta xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.

殿殿便

rán ér yǒu xǔ duō jì sī 、 lì wèi rén 、 zú zhǎng , jiù shì jiàn guò jiù diàn de lǎo nián rén , xiàn zài qīn yǎn kàn jiàn lì zhè diàn de gēn jī , biàn dà shēng kū hào , yě yǒu xǔ duō rén dà shēng huān hū ,

Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước, bèn khóc tiếng lớn trong khi người ta xây nền của đền mới tại trước mặt mình. Cũng có nhiều người khác lại la tiếng lớn vui mừng hớn hở;

shèn zhì bǎi xìng bù néng fēn biàn huān hū de shēng yīn hé kū hào de shēng yīn ; yīn wèi zhòng rén dà shēng hū hǎn , shēng yīn tīng dào yuǎn chù 。

nên người ta khó phân biệt tiếng vui mừng với tiếng khóc lóc; vì dân sự la lớn tiếng lên, và tiếng ấy vẳng vẳng nghe xa.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.