中文圣经

SÁNG THẾ 19

đã biết 0/326

使

nà liǎng gè tiān shǐ wǎn shàng dào le suǒ duō mǎ ; luó dé zhèng zuò zài suǒ duō mǎ chéng mén kǒu , kàn jiàn tā men , jiù qǐ lái yíng jiē , liǎn fú yú dì xià bài ,

Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đang ngồi tại cửa thành. Khi Lót thấy hai thiên sứ đến, đứng dậy mà đón rước và sấp mình xuống đất.

:「。」:「。」

shuō :「 wǒ zhǔ a , qǐng nǐ men dào pú rén jiā lǐ xǐ xǐ jiǎo , zhù yí yè , qīng zǎo qǐ lái zài zǒu 。」 tā men shuō :「 bù ! wǒ men yào zài jiē shàng guò yè 。」

Người thưa rằng: Nầy, lạy hai chúa, xin hãy đến ở nhà của kẻ tôi tớ, và hãy nghỉ đêm tại đó. Hai chúa hãy rửa chân, rồi sáng mai thức dậy lên đường. Hai thiên sứ phán rằng: Không, đêm nầy ta sẽ ở ngoài đường.

luó dé qiè qiè dì qǐng tā men , tā men zhè cái jìn qù , dào tā wū lǐ 。 luó dé wèi tā men yù bèi yán xí , kǎo wú jiào bǐng , tā men jiù chī le 。

Nhưng Lót cố mời cho đến đỗi hai thiên sứ phải đi lại vào nhà mình. Người dâng một bữa tiệc, làm bánh không men, và hai thiên sứ bèn dùng tiệc.

tā men hái méi yǒu tǎng xià , suǒ duō mǎ chéng lǐ gè chù de rén , lián lǎo dài shǎo , dōu lái wéi zhù nà fáng zi ,

Hai thiên sứ chưa đi nằm, mà các người nam ở Sô-đôm, từ trẻ đến già, tức cả dân, đều chạy đến bao chung quanh nhà.

:「。」

hū jiào luó dé shuō :「 jīn rì wǎn shàng dào nǐ zhè lǐ lái de rén zài nǎ lǐ ne ? bǎ tā men dài chū lái , rèn wǒ men suǒ wèi 。」

Bọn đó gọi Lót mà hỏi rằng: Những khách đã vào nhà ngươi buổi chiều tối nay ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây, hầu cho chúng ta được biết.

luó dé chū lái , bǎ mén guān shàng , dào zhòng rén nà lǐ ,

Lót bèn ra đến cùng dân chúng ở ngoài cửa, rồi đóng cửa lại,

:「

shuō :「 zhòng dì xiong , qǐng nǐ men bú yào zuò zhè è shì 。

và nói cùng họ rằng: Nầy, tôi xin anh em đừng làm điều ác đó!

。」

wǒ yǒu liǎng gè nǚ ér , hái shì chǔ nǚ , róng wǒ lǐng chū lái , rèn píng nǐ men de xīn yuàn ér xíng ; zhǐ shì zhè liǎng gè rén jì rán dào wǒ shè xià , bú yào xiàng tā men zuò shén me 。」

Đây, tôi sẵn có hai con gái chưa chồng, tôi sẽ đưa chúng nó cho anh em, rồi mặc tình anh em tính làm sao tùy ý; miễn đừng làm chi hại cho hai người kia; vì cớ đó, nên họ đến núp bóng mái nhà tôi.

:「退!」:「。」

zhòng rén shuō :「 tuì qù ba !」 yòu shuō :「 zhè ge rén lái jì jū , hái xiǎng yào zuò guān nǎ ! xiàn zài wǒ men yào hài nǐ bǐ hài tā men gèng shèn 。」 zhòng rén jiù xiàng qián yōng jǐ luó dé , yào gōng pò fáng mén 。

Bọn dân chúng nói rằng: Ngươi hãy tránh chỗ khác! Lại tiếp rằng: Người nầy đến đây như kẻ kiều ngụ, lại muốn đoán xét nữa sao! Vậy, thôi! chúng ta sẽ đãi ngươi bạc-tệ hơn hai khách kia. Đoạn, họ lấn ép Lót mạnh quá, và tràn đến đặng phá cửa.

zhǐ shì nà èr rén shēn chū shǒu lái , jiāng luó dé lā jìn wū qù , bǎ mén guān shàng ,

Nhưng hai thiên sứ giơ tay ra, đem Lót vào nhà, và đóng cửa lại,

使

bìng qiě shǐ mén wài de rén , wú lùn lǎo shào , yǎn dōu hūn mí ; tā men mō lái mō qù , zǒng xún bù zhe fáng mén 。

đoạn, hành phạt bọn dân chúng ở ngoài cửa, từ trẻ đến già, đều quáng lòa mắt, cho đến đỗi tìm cửa mệt mà không được.

:「婿

èr rén duì luó dé shuō :「 nǐ zhè lǐ hái yǒu shén me rén ma ? wú lùn shì nǚ xu shì ér nǚ , hé zhè chéng zhōng yí qiè shǔ nǐ de rén , nǐ dōu yào jiāng tā men cóng zhè dì fāng dài chū qù 。

Hai thiên sứ bèn hỏi Lót rằng: Ngươi còn có ai tại đây nữa chăng? Rể, con trai, con gái và ai trong thành thuộc về ngươi, hãy đem ra khỏi hết đi!

。」

wǒ men yào huǐ miè zhè dì fāng ; yīn wèi chéng nèi zuì è de shēng yīn zài yē hé huá miàn qián shèn dà , yē hé huá chà wǒ men lái , yào huǐ miè zhè dì fāng 。」

Chúng ta sẽ hủy diệt chỗ nầy, vì tiếng kêu oan về dân thành nầy đã thấu lên đến Đức Giê-hô-va, nên Ngài sai chúng ta xuống mà hủy diệt.

婿:「。」婿

luó dé jiù chū qù , gào sù qǔ le tā nǚ ér de nǚ xu men shuō :「 nǐ men qǐ lái lí kāi zhè dì fāng , yīn wèi yē hé huá yào huǐ miè zhè chéng 。」 tā nǚ xu men què yǐ wéi tā shuō de shì xì yán 。

Lót bèn đi ra và nói cùng rể đã cưới con gái mình rằng: Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt thành. Nhưng các chàng rể tưởng người nói chơi.

使:「。」

tiān míng le , tiān shǐ cuī bī luó dé shuō :「 qǐ lái ! dài zhe nǐ de qī zǐ hé nǐ zài zhè lǐ de liǎng gè nǚ ér chū qù , miǎn de nǐ yīn zhè chéng lǐ de zuì è tóng bèi jiǎo miè 。」

Đến sáng, hai thiên sứ hối Lót và phán rằng: Hãy thức dậy, dẫn vợ và hai con gái ngươi đang ở đây ra, e khi ngươi cũng chết lây về việc hình phạt của thành nữa chăng.

dàn luó dé chí yán bù zǒu 。 èr rén yīn wèi yē hé huá lián xù luó dé , jiù lā zhe tā de shǒu hé tā qī zǐ de shǒu , bìng tā liǎng gè nǚ ér de shǒu , bǎ tā men lǐng chū lái , ān zhì zài chéng wài ;

Nhưng Lót lần lữa; vì cớ Đức Giê-hô-va thương xót Lót, nên hai thiên sứ nắm lấy tai kéo người, vợ cùng hai con gái người, và dẫn ra khỏi thành.

:「。」

lǐng tā men chū lái yǐ hòu , jiù shuō :「 táo mìng ba ! bù kě huí tóu kàn , yě bù kě zài píng yuán zhàn zhù 。 yào wǎng shān shàng táo pǎo , miǎn de nǐ bèi jiǎo miè 。」

Vả, khi hai thiên sứ dẫn họ ra khỏi rồi, một trong hai vì nói rằng: Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng; hãy chạy trốn lên núi, kẻo phải bỏ mình chăng.

:「

luó dé duì tā men shuō :「 wǒ zhǔ a , bú yào rú cǐ !

Lót đáp lại rằng: Lạy Chúa, không được!

便

nǐ pú rén yǐ jīng zài nǐ yǎn qián méng ēn ; nǐ yòu xiàng wǒ xiǎn chū mò dà de cí ài , jiù wǒ de xìng mìng 。 wǒ bù néng táo dào shān shàng qù , kǒng pà zhè zāi huò lín dào wǒ , wǒ biàn sǐ le 。

Nầy, tôi tớ đã được ơn trước mặt Chúa; Chúa đã tỏ lòng nhân từ rất lớn cùng tôi mà cứu tròn sự sống tôi. Nhưng tôi chạy trốn lên núi không kịp trước khi tai nạn đến, thì tôi phải chết.

。」

kàn nǎ , zhè zuò chéng yòu xiǎo yòu jìn , róng yì táo dào , zhè bú shì yí gè xiǎo de ma ? qiú nǐ róng wǒ táo dào nà lǐ , wǒ de xìng mìng jiù dé cún huó 。」

Kìa, thành kia đã nhỏ, lại cũng gần đặng tôi có thế ẩn mình. Oâi! chớ chi Chúa cho tôi ẩn đó đặng cứu tròn sự sống tôi. Thành nầy há chẳng phải nhỏ sao?

使:「

tiān shǐ duì tā shuō :「 zhè shì wǒ yě yīng yǔn nǐ ; wǒ bù qīng fù nǐ suǒ shuō de zhè chéng 。

Thiên sứ phán rằng: Đây, ta ban ơn nầy cho ngươi nữa, sẽ không hủy diệt thành của ngươi đã nói đó đâu.

。」

nǐ yào sù sù dì táo dào nà chéng ; yīn wèi nǐ hái méi yǒu dào nà lǐ , wǒ bù néng zuò shén me 。」 yīn cǐ nà chéng míng jiào suǒ ěr 。

Mau mau hãy lại ẩn đó, vì ta không làm chi được khi ngươi chưa vào đến nơi. Bởi cớ ấy, nên người ta gọi tên thành nầy là Xoa.

luó dé dào le suǒ ěr , rì tou yǐ jīng chū lái le 。

Khi mặt trời mọc lên khỏi đất, thì Lót vào đến thành Xoa.

dāng shí , yē hé huá jiāng liú huáng yǔ huǒ cóng tiān shàng yē hé huá nà lǐ jiàng yǔ suǒ duō mǎ hé é mó lā ,

Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,

bǎ nà xiē chéng hé quán píng yuán , bìng chéng lǐ suǒ yǒu de jū mín , lián dì shàng shēng zhǎng de , dōu huǐ miè le 。

hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.

luó dé de qī zǐ zài hòu biān huí tóu yí kàn , jiù biàn chéng le yì gēn yán zhù 。

Nhưng vợ của Lót quay ngó lại đặng sau mình, nên hóa ra một tượng muối.

yà bó lā hǎn qīng zǎo qǐ lái , dào le tā cóng qián zhàn zài yē hé huá miàn qián de dì fāng ,

Aùp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đã đứng chầu Đức Giê-hô-va,

xiàng suǒ duō mǎ hé é mó lā yǔ píng yuán de quán dì guān kàn , bú liào , nà dì fāng yān qì shàng téng , rú tóng shāo yáo yì bān 。

ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, cùng khắp xứ ở đồng bằng, thì thấy từ dưới đất bay lên một luồng khói, như khói của một lò lửa lớn.

dāng shén huǐ miè píng yuán zhū chéng de shí hòu , tā jì niàn yà bó lā hǎn , zhèng zài qīng fù luó dé suǒ zhù zhī chéng de shí hòu , jiù dǎ fā luó dé cóng qīng fù zhī zhōng chū lái 。

Vả, khi Đức Chúa Trời hủy diệt các thành nơi đồng bằng, tức là thành Lót ở, thì nhớ đến Aùp-ra-ham, cứu Lót ra khỏi chốn phá tan đó.

luó dé yīn wèi pà zhù zài suǒ ěr , jiù tóng tā liǎng gè nǚ ér cóng suǒ ěr shàng qù , zhù zài shān lǐ ; tā hé liǎng gè nǚ ér zhù zài yí gè dòng lǐ 。

Lót ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia.

:「

dà nǚ ér duì xiǎo nǚ ér shuō :「 wǒ men de fù qīn lǎo le , dì shàng yòu wú rén àn zhe shì shàng de cháng guī jìn dào wǒ men zhè lǐ 。

Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già, mà không còn ai trên mặt đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ.

。」

lái ! wǒ men kě yǐ jiào fù qīn hē jiǔ , yǔ tā tóng qǐn 。 zhè yàng , wǒ men hǎo cóng tā cún liú hòu yì 。」

Hè! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại.

yú shì , nà yè tā men jiào fù qīn hē jiǔ , dà nǚ ér jiù jìn qù hé tā fù qīn tóng qǐn ; tā jǐ shí tǎng xià , jǐ shí qǐ lái , fù qīn dōu bù zhī dào 。

Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.

:「。」

dì èr tiān , dà nǚ ér duì xiǎo nǚ ér shuō :「 wǒ zuó yè yǔ fù qīn tóng qǐn 。 jīn yè wǒ men zài jiào tā hē jiǔ , nǐ kě yǐ jìn qù yǔ tā tóng qǐn 。 zhè yàng , wǒ men hǎo cóng fù qīn cún liú hòu yì 。」

Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm hôm qua ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại.

yú shì , nà yè tā men yòu jiào fù qīn hē jiǔ , xiǎo nǚ ér qǐ lái yǔ tā fù qīn tóng qǐn ; tā jǐ shí tǎng xià , jǐ shí qǐ lái , fù qīn dōu bù zhī dào 。

Đêm đó, hai nàng lại phục rượu cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ thức dậy lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.

怀

zhè yàng , luó dé de liǎng gè nǚ ér dōu cóng tā fù qīn huái le yùn 。

Vậy, hai con gái của Lót do nơi cha mình mà thọ thai.

dà nǚ ér shēng le ér zi , gěi tā qǐ míng jiào mó yā , jiù shì xiàn jīn mó yā rén de shǐ zǔ 。

Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ.

便·

xiǎo nǚ ér yě shēng le ér zi , gěi tā qǐ míng jiào biàn · yà mǐ , jiù shì xiàn jīn yà mén rén de shǐ zǔ 。

Người em cũng sanh đặng một con trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.