中文圣经

SÁNG THẾ 39

đã biết 0/185

yuē sè bèi dài xià āi jí qù 。 yǒu yí gè āi jí rén , shì fǎ lǎo de nèi chén — hù wèi cháng bō tí fá , cóng nà xiē dài xià tā lái de yǐ shí mǎ lì rén shǒu xià mǎi le tā qù 。

Vả, Giô-sép bị đem qua xứ Ê-díp-tô, thì Phô-ti-pha, người bản xứ, làm quan thị vệ của Pha-ra-ôn, mua chàng nơi tay dân ỗch-ma-ên đã dẫn đến.

yuē sè zhù zài tā zhǔ rén āi jí rén de jiā zhōng , yē hé huá yǔ tā tóng zài , tā jiù bǎi shì shùn lì 。

Giô-sép ở trong nhà chủ mình, là người Ê-díp-tô, được Đức Giê-hô-va phù hộ, nên thạnh lợi luôn.

使

tā zhǔ rén jiàn yē hé huá yǔ tā tóng zài , yòu jiàn yē hé huá shǐ tā shǒu lǐ suǒ bàn de jìn dōu shùn lì ,

Chủ thấy Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và xui cho mọi việc chi chàng lãnh làm nơi tay đều được thạnh vượng.

yuē sè jiù zài zhǔ rén yǎn qián méng ēn , cì hou tā zhǔ rén , bìng qiě zhǔ rén pài tā guǎn lǐ jiā wù , bǎ yí qiè suǒ yǒu de dōu jiāo zài tā shǒu lǐ 。

Vậy, Giô-sép được ơn trước mặt chủ mình; chủ cắt chàng hầu việc, đặt cai quản cửa nhà, và phó của cải mình cho chàng hết.

zì cóng zhǔ rén pài yuē sè guǎn lǐ jiā wù hé tā yí qiè suǒ yǒu de , yē hé huá jiù yīn yuē sè de yuán gù cì fú yǔ nà āi jí rén de jiā ; fán jiā lǐ hé tián jiān yí qiè suǒ yǒu de dōu méng yē hé huá cì fú 。

Từ khi người đặt Giô-sép cai quản cửa nhà cùng hết thảy của cải mình rồi, thì Đức Giê-hô-va vì Giô-sép ban phước cho nhà người; sự ban phước của Đức Giê-hô-va bủa khắp mọi vật của người làm chủ, hoặc trong nhà, hoặc ngoài đồng.

bō tí fá jiāng yí qiè suǒ yǒu de dōu jiāo zài yuē sè de shǒu zhōng , chú le zì jǐ suǒ chī de fàn , bié de shì yí gài bù zhī 。 yuē sè yuán lái xiù yǎ jùn měi 。

Người giao hết của cải mình cho Giô-sép coi sóc, chẳng lo đến việc nào nữa, trừ ra các phần vật thực của mình ăn mà thôi. Vả, Giô-sép hình dung đẹp đẽ, mặt mày tốt tươi.

:「!」

zhè shì yǐ hòu , yuē sè zhǔ rén de qī yǐ mù sòng qíng gěi yuē sè , shuō :「 nǐ yǔ wǒ tóng qǐn ba !」

Sau các việc nầy, vợ chủ đưa mắt cùng Giô-sép, mà nói rằng: Hãy lại nằm cùng ta.

:「

yuē sè bù cóng , duì tā zhǔ rén de qī shuō :「 kàn nǎ , yí qiè jiā wù , wǒ zhǔ rén dōu bù zhī dào ; tā bǎ suǒ yǒu de dōu jiāo zài wǒ shǒu lǐ 。

Chàng từ chối và đáp rằng: Chủ đã giao nơi tay tôi mọi vật của người, và nầy, chủ chẳng lo biết đến việc chi trong nhà nữa;

?」

zài zhè jiā lǐ méi yǒu bǐ wǒ dà de ; bìng qiě tā méi yǒu liú xià yí yàng bù jiāo gěi wǒ , zhī liú xià le nǐ , yīn wèi nǐ shì tā de qī zǐ 。 wǒ zěn néng zuò zhè dà è , dé zuì shén ne ?」

trong nhà nầy chẳng ai lớn hơn tôi, và chủ cùng không cấm chi tôi, trừ ra một mình ngươi, vì là vợ của chủ tôi. Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?

hòu lái tā tiān tiān hé yuē sè shuō , yuē sè què bù tīng cóng tā , bù yǔ tā tóng qǐn , yě bù hé tā zài yí chù 。

Thường ngày người dỗ dành mặc dầu, thì Giô-sép chẳng khứng nghe lời dụ dỗ nằm cùng hay là ở cùng người chút nào.

yǒu yì tiān , yuē sè jìn wū lǐ qù bàn shì , jiā zhōng rén méi yǒu yí gè zài nà wū lǐ ,

Một ngày kia, Giô-sép vào nhà đặng làm công việc; vả, chẳng có người nhà nào ở đó,

:「!」

fù rén jiù lā zhù tā de yī shang , shuō :「 nǐ yǔ wǒ tóng qǐn ba !」 yuē sè bǎ yī shang diū zài fù rén shǒu lǐ , pǎo dào wài biān qù le 。

thì người bèn nắm áo chàng mà rằng: Hãy nằm cùng ta! Nhưng chàng liền tuột áo để lại trong tay người mà chạy trốn ra ngoài.

fù rén kàn jiàn yuē sè bǎ yī shang diū zài tā shǒu lǐ pǎo chū qù le ,

Khi người thấy áo còn lại nơi tay mình, và chàng đã chạy trốn ra ngoài như vậy,

:「

jiù jiào le jiā lǐ de rén lái , duì tā men shuō :「 nǐ men kàn ! tā dài le yí gè xī bó lái rén jìn rù wǒ men jiā lǐ , yào xì nòng wǒ men 。 tā dào wǒ zhè lǐ lái , yào yǔ wǒ tóng qǐn , wǒ jiù dà shēng hǎn jiào 。

bèn gọi người nhà mà nói rằng: Bay coi! Họ khéo đem vào nhà một thằng Hê-bơ-rơ để chọc ghẹo ta. Nó lại gần toan nằm cùng ta, nhưng ta la lớn lên.

。」

tā tīng jiàn wǒ fàng shēng hǎn qǐ lái , jiù bǎ yī shang diū zài wǒ zhè lǐ , pǎo dào wài biān qù le 。」

Vừa khi nó nghe ta cất tiếng la, thì tuột áo lại bên ta, chạy trốn ra ngoài.

fù rén bǎ yuē sè de yī shang fàng zài zì jǐ nà lǐ , děng zhe tā zhǔ rén huí jiā ,

Người bèn để áo của Giô-sép bên mình đợi khi chủ về nhà,

:「

jiù duì tā rú cǐ rú cǐ shuō :「 nǐ suǒ dài dào wǒ men zhè lǐ de nà xī bó lái pú rén jìn lái yào xì nòng wǒ ,

học lại cùng chủ y như lời trước, rằng: Thằng nô lệ Hê-bơ-rơ mà ông khéo đem về nhà đã đến gần đặng chọc ghẹo tôi;

。」

wǒ fàng shēng hǎn qǐ lái , tā jiù bǎ yī shang diū zài wǒ zhè lǐ , pǎo chū qù le 。」

nhưng khi tôi cất tiếng la lên, nó tuột áo lại bên tôi, rồi chạy trốn ra ngoài.

」,

yuē sè de zhǔ rén tīng jiàn tā qī zǐ duì tā suǒ shuō de huà , shuō 「 nǐ de pú rén rú cǐ rú cǐ dài wǒ 」, tā jiù shēng qì ,

Vừa khi chủ của Giô-sép nghe lời vợ nói rằng: Đó, kẻ nô lệ ông làm điều như vậy, thì nổi giận phừng phừng,

bǎ yuē sè xià zài jiān lǐ , jiù shì wáng de qiú fàn bèi qiú de dì fāng 。 yú shì yuē sè zài nà lǐ zuò jiān 。

bèn bắt chàng đem bỏ vào tù, là nơi cầm các kẻ phạm tội của vua. Vậy, chàng ở tù tại đó.

使

dàn yē hé huá yǔ yuē sè tóng zài , xiàng tā shī ēn , shǐ tā zài sī yù de yǎn qián méng ēn 。

Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép và tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho được ơn trước mặt chủ ngục.

sī yù jiù bǎ jiān lǐ suǒ yǒu de qiú fàn dōu jiāo zài yuē sè de shǒu xià ; tā men zài nà lǐ suǒ bàn de shì dōu shì jīng tā de shǒu 。

Chủ ngục giao hết các kẻ tù trong tay Giô-sép, chẳng việc chi làm qua khỏi được chàng.

使

fán zài yuē sè shǒu xià de shì , sī yù yí gài bù chá , yīn wèi yē hé huá yǔ yuē sè tóng zài ; yē hé huá shǐ tā suǒ zuò de jìn dōu shùn lì 。

Chủ ngục chẳng soát lại những việc đã ở nơi tay Giô-sép, vì có Đức Giê-hô-va phù hộ chàng, xui cho việc chi chàng làm cũng được thạnh vượng.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.