中文圣经

SÁNG THẾ 41

đã biết 0/349

guò le liǎng nián , fǎ lǎo zuò mèng , mèng jiàn zì jǐ zhàn zài hé biān ,

Cách hai năm sau, Pha-ra-ôn nằm chiêm bao thấy mình đứng bên bờ sông.

yǒu qī zhī mǔ niú cóng hé lǐ shàng lái , yòu měi hǎo yòu féi zhuàng , zài lú dí zhōng chī cǎo 。

Nầy đâu dưới sông đi lên bảy con bò mập và tốt, ăn cỏ trong bưng.

suí hòu yòu yǒu qī zhī mǔ niú cóng hé lǐ shàng lái , yòu chǒu lòu yòu gān shòu , yǔ nà qī zhī mǔ niú yì tóng zhàn zài hé biān 。

Rồi nầy, bảy con bò khác, xấu dạng, gầy guộc, ở dưới sông đi theo lên sau, đến đứng gần các con bò trước trên bờ sông.

zhè yòu chǒu lòu yòu gān shòu de qī zhī mǔ niú chī jìn le nà yòu měi hǎo yòu féi zhuàng de qī zhī mǔ niú 。 fǎ lǎo jiù xǐng le 。

Bảy con bò xấu dạng, gầy guộc nuốt bảy con bò mập tốt. Pha-ra-ôn bèn thức giấc.

tā yòu shuì zháo , dì èr huí zuò mèng , mèng jiàn yì kē mài zi cháng le qī gè suì zǐ , yòu féi dà yòu jiā měi ,

Vua nằm ngủ lại, chiêm bao lần thứ nhì, thấy bảy gié lúa chắc, tốt tươi, mọc chung trên một cộng rạ.

suí hòu yòu cháng le qī gè suì zǐ , yòu xì ruò yòu bèi dōng fēng chuī jiāo le 。

Kế đó, bảy gié lúa khác lép và bị gió đông thổi háp, mọc theo bảy gié lúa kia.

zhè xì ruò de suì zǐ tūn le nà qī gè yòu féi dà yòu bǎo mǎn de suì zǐ 。 fǎ lǎo xǐng le , bú liào shì gè mèng 。

Bảy gié lúa lép nuốt bảy gié lúa chắc. Pha-ra-ôn bèn thức giấc; và nầy, thành ra một điềm chiêm bao.

dào le zǎo chén , fǎ lǎo xīn lǐ bù ān , jiù chà rén zhào le āi jí suǒ yǒu de shù shì hé bó shì lái ; fǎ lǎo jiù bǎ suǒ zuò de mèng gào sù tā men , què méi yǒu rén néng gěi fǎ lǎo yuán jiě 。

Sáng mai, tâm thần người bất định, truyền đòi các pháp-sư và các tay bác sĩ xứ Ê-díp-tô đến, thuật lại điềm chiêm bao mình cho họ nghe; nhưng chẳng có ai bàn được điềm chiêm bao đó cho vua hết.

:「

nà shí jiǔ zhèng duì fǎ lǎo shuō :「 wǒ jīn rì xiǎng qǐ wǒ de zuì lái 。

Quan tửu chánh bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Bây giờ, tôi nhớ đến lỗi của tôi.

cóng qián fǎ lǎo nǎo nù chén pú , bǎ wǒ hé shàn cháng xià zài hù wèi cháng fǔ nèi de jiān lǐ 。

Ngày trước, bệ hạ nổi giận cùng quần thần, có cầm ngục quan thượng thiện và tôi nơi dinh quan thị vệ.

wǒ men èr rén tóng yè gè zuò yí mèng , gè mèng dōu yǒu jiǎng jiě 。

Trong lúc đó, cùng một đêm kia, chúng tôi có thấy điềm chiêm bao, chiêm bao mỗi người đều có ý nghĩa riêng rõ ràng.

zài nà lǐ tóng zhe wǒ men yǒu yí gè xī bó lái de shào nián rén , shì hù wèi cháng de pú rén , wǒ men gào sù tā , tā jiù bǎ wǒ men de mèng yuán jiě , shì àn zhe gè rén de mèng yuán jiě de 。

Tại đó, cùng chung ngục, có một người Hê-bơ-rơ, còn trẻ, kẻ gia-đinh của quan thị vệ; chúng tôi thuật lại cho chàng nghe điềm chiêm bao của mình; chàng bàn rõ ra cho ai mỗi chiêm bao nấy.

。」

hòu lái zhèng rú tā gěi wǒ men yuán jiě de chéng jiù le : wǒ guān fù yuán zhí , shàn cháng bèi guà qǐ lái le 。」

Rồi ra, công việc xảy đến y như lời chàng bàn: bệ hạ phục chức tôi lại, và xử treo quan kia.

便

fǎ lǎo suì jí chà rén qù zhào yuē sè , tā men biàn jí máng dài tā chū jiān , tā jiù tì tóu , guā liǎn , huàn yī shang , jìn dào fǎ lǎo miàn qián 。

Pha-ra-ôn bèn sai đi đòi Giô-sép; họ lập tức tha người ra khỏi ngục, cạo mặt mày cho, biểu thay đổi áo xống, rồi vào chầu Pha-ra-ôn.

:「。」

fǎ lǎo duì yuē sè shuō :「 wǒ zuò le yí mèng , méi yǒu rén néng jiě ; wǒ tīng jiàn rén shuō , nǐ tīng le mèng jiù néng jiě 。」

Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép rằng: Trẫm có thấy một điềm chiêm bao mà chẳng ai bàn ra. Vậy, trẫm nghe rằng khi người ta thuật điềm chiêm bao lại cho, thì ngươi bàn được.

:「。」

yuē sè huí dá fǎ lǎo shuō :「 zhè bú zài hu wǒ , shén bì jiāng píng ān de huà huí dá fǎ lǎo 。」

Giô-sép tâu rằng: Đó chẳng phải tôi, nhưng ấy là Đức Chúa Trời đem sự bình an đáp cho bệ hạ vậy.

:「

fǎ lǎo duì yuē sè shuō :「 wǒ mèng jiàn wǒ zhàn zài hé biān ,

Pha-ra-ôn phán rằng: Nầy, trong điềm chiêm bao trẫm đang đứng bên bờ sông.

yǒu qī zhī mǔ niú cóng hé lǐ shàng lái , yòu féi zhuàng yòu měi hǎo , zài lú dí zhōng chī cǎo 。

Nầy đâu bảy con bò mập và tốt dưới sông đi lên, đến ăn cỏ trong bưng.

suí hòu yòu yǒu qī zhī mǔ niú shàng lái , yòu ruǎn ruò yòu chǒu lòu yòu gān shòu , zài āi jí biàn dì , wǒ méi yǒu jiàn guò zhè yàng bù hǎo de 。

Rồi bảy con bò khác xấu dạng gầy guộc đi theo lên sau; thật trẫm chẳng thấy trong xứ Ê-díp-tô nầy có bò xấu dạng như vậy bao giờ.

zhè yòu gān shòu yòu chǒu lòu de mǔ niú chī jìn le nà yǐ xiān de qī zhī féi mǔ niú ,

Bảy con bò xấu dạng gầy guộc đó nuốt bảy con bò mập tốt trước kia,

chī le yǐ hòu què kàn bù chū shì chī le , nà chǒu lòu de yàng zi réng jiù hé xiān qián yí yàng 。 wǒ jiù xǐng le 。

nuốt vào bụng, mà dường như không có nuốt, vì các con bò đó vẫn xấu dạng như xưa.

wǒ yòu mèng jiàn yì kē mài zi , cháng le qī gè suì zǐ , yòu bǎo mǎn yòu jiā měi ,

Trẫm bèn thức giấc; rồi lại thấy điềm chiêm bao khác, là bảy gié lúa chắc tốt tươi mọc chung trên một cộng rạ.

suí hòu yòu cháng le qī gè suì zǐ , kū gǎo xì ruò , bèi dōng fēng chuī jiāo le 。

Kế đó, bảy gié lúa khác, khô, lép, bị gió đông thổi háp, mọc theo bảy gié lúa kia;

。」

zhè xiē xì ruò de suì zǐ tūn le nà qī gè jiā měi de suì zǐ 。 wǒ jiāng zhè mèng gào sù le shù shì , què méi yǒu rén néng gěi wǒ jiě shuō 。」

và bảy gié lúa lép đó lại nuốt bảy gié lúa chắc. Trẫm đã thuật điềm chiêm bao nầy cho các pháp-sư, nhưng không ai giải nghĩa ra được.

:「

yuē sè duì fǎ lǎo shuō :「 fǎ lǎo de mèng nǎi shì yí gè 。 shén yǐ jiāng suǒ yào zuò de shì zhǐ shì fǎ lǎo le 。

Giô-sép tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Hai điềm chiêm bao của bệ hạ thấy đó đồng một nghĩa mà thôi; Đức Chúa Trời mách cho bệ hạ biết trước những việc Ngài sẽ làm.

qī zhī hǎo mǔ niú shì qī nián , qī gè hǎo suì zǐ yě shì qī nián ; zhè mèng nǎi shì yí gè 。

Bảy con bò mập tốt đó, tức là bảy năm; bảy gié lúa chắc đó cũng là bảy năm. Aáy chỉ đồng một điềm chiêm bao vậy.

nà suí hòu shàng lái de qī zhī yòu gān shòu yòu chǒu lòu de mǔ niú shì qī nián , nà qī gè xū kōng 、 bèi dōng fēng chuī jiāo de suì zǐ yě shì qī nián , dōu shì qī gè huāng nián 。

Bảy con bò xấu dạng gầy guộc lên theo sau bảy con bò kia, tức là bảy năm; và bảy gié lúa lép bị gió đông thổi háp đó, tức là bảy năm đói kém.

zhè jiù shì wǒ duì fǎ lǎo suǒ shuō , shén yǐ jiāng suǒ yào zuò de shì xiǎn míng gěi fǎ lǎo le 。

Aáy là điều tôi đã tâu cùng bệ hạ rồi: Đức Chúa Trời có cho bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm.

āi jí biàn dì bì lái qī gè dà fēng nián ,

Nầy, trong khắp xứ Ê-díp-tô sẽ có bảy năm được mùa dư dật.

suí hòu yòu yào lái qī gè huāng nián , shèn zhì zài āi jí dì dōu wàng le xiān qián de fēng shōu , quán dì bì bèi jī huāng suǒ miè 。

Nhưng bảy năm đó lại liền tiếp bảy năm đói kém; dân bản xứ đều sẽ quên sự dư dật đó, và ách đói kém sẽ làm cho toàn xứ hao mòn.

便

yīn nà yǐ hòu de jī huāng shèn dà , biàn bù jué de xiān qián de fēng shōu le 。

Và vì sự đói kém liên tiếp nầy lớn quá, nên thiên hạ chẳng còn thấy chi về sự dư dật đó nữa.

zhì yú fǎ lǎo liǎng huí zuò mèng , shì yīn shén mìng dìng zhè shì , ér qiě bì sù sù chéng jiù 。

Nếu điềm chiêm bao đến hai lần cho bệ hạ, ấy bởi Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi, và Ngài mau mau lo làm cho thành vậy.

suǒ yǐ , fǎ lǎo dāng jiǎn xuǎn yí gè yǒu cōng ming yǒu zhì huì de rén , pài tā zhì lǐ āi jí dì 。

Bây giờ bệ hạ khá chọn một người thông minh trí-huệ, lập người lên làm đầu trong xứ Ê-díp-tô,

fǎ lǎo dāng zhè yàng xíng , yòu pài guān yuán guǎn lǐ zhè dì 。 dāng qī gè fēng nián de shí hòu , zhēng shōu āi jí dì de wǔ fēn zhī yī ,

cùng lập các ủy viên trong xứ, để góp một phần năm của số thâu vào trong bảy năm được mùa dư dật đó.

jiào tā men bǎ jiāng lái fēng nián yí qiè de liáng shí jù liǎn qǐ lái , jī xù wǔ gǔ , shōu cún zài gè chéng lǐ zuò shí wù , guī yú fǎ lǎo de shǒu xià 。

Họ hãy thâu góp hết thảy mùa màng trong bảy năm được mùa dư dật sẽ đến sau nầy, cùng thâu nhập lúa mì sẵn dành cho Pha-ra-ôn, dùng làm lương để dành trong các thành, và họ hãy giữ gìn lấy.

。」

suǒ jī xù de liáng shí kě yǐ fáng bèi āi jí dì jiāng lái de qī gè huāng nián , miǎn de zhè dì bèi jī huāng suǒ miè 。」

Các lương thực nầy phải để dành cho bảy năm đói kém sẽ đến trong xứ Ê-díp-tô, hầu cho xứ nầy khỏi bị diệt bởi sự đói kém đó.

fǎ lǎo hé tā yí qiè chén pú dōu yǐ zhè shì wèi miào 。

Các lời nầy đẹp ý Pha-ra-ôn và quần thần.

:「 ?」

fǎ lǎo duì chén pú shuō :「 xiàng zhè yàng de rén , yǒu shén de líng zài tā lǐ tou , wǒ men qǐ néng zhǎo dé zhe ne ?」

Pha-ra-ôn phán cùng quần thần rằng: Chúng ta há dễ tìm một người như người nầy, có thần minh của Đức Chúa Trời được sao?

:「

fǎ lǎo duì yuē sè shuō :「 shén jì jiāng zhè shì dōu zhǐ shì nǐ , kě jiàn méi yǒu rén xiàng nǐ zhè yàng yǒu cōng ming yǒu zhì huì 。

Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép rằng: Vì Đức Chúa Trời xui cho ngươi biết mọi việc nầy, thì chẳng còn ai được thông minh trí-huệ như ngươi nữa.

。」

nǐ kě yǐ zhǎng guǎn wǒ de jiā ; wǒ de mín dōu bì tīng cóng nǐ de huà 。 wéi dú zài bǎo zuò shàng wǒ bǐ nǐ dà 。」

Vậy, ngươi sẽ lên cai trị nhà trẫm; hết thảy dân sự của trẫm đều sẽ vâng theo lời ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngự ngôi vua mà thôi.

:「。」

fǎ lǎo yòu duì yuē sè shuō :「 wǒ pài nǐ zhì lǐ āi jí quán dì 。」

Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép rằng: Hãy xem! trẫm lập ngươi cầm quyền trên cả xứ Ê-díp-tô.

穿

fǎ lǎo jiù zhāi xià shǒu shàng dǎ yìn de jiè zhǐ , dài zài yuē sè de shǒu shàng , gěi tā chuān shàng xì má yī , bǎ jīn liàn dài zài tā de jǐng xiàng shàng ,

Vua liền cổi chiếc nhẫn trong tay mình, đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc áo vải gai mịn, và đeo vòng vàng vào cổ người;

:「。」

yòu jiào yuē sè zuò tā de fù chē , hè dào de zài qián hū jiào shuō :「 guì xià 。」 zhè yàng , fǎ lǎo pài tā zhì lǐ āi jí quán dì 。

rồi, truyền cho lên ngồi xe sau xe vua, có người đi trước hô rằng: Hãy quì xuống! Aáy, Giô-sép được lập lên cầm quyền cả xứ Ê-díp-tô là vậy.

:「 。」

fǎ lǎo duì yuē sè shuō :「 wǒ shì fǎ lǎo , zài āi jí quán dì , ruò méi yǒu nǐ de mìng lìng , bù xǔ rén shàn zì bàn shì 。」

Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép: Ta là Pha-ra-ôn, nhưng nếu chẳng có ngươi, thì trong cả xứ Ê-díp-tô không có ai giơ tay đưa chân lên được.

·西

fǎ lǎo cì míng gěi yuē sè , jiào sā fā nà tè · bā nèi yà , yòu jiāng ān chéng de jì sī bō tí fēi lā de nǚ ér yà xī nà gěi tā wèi qī 。 yuē sè jiù chū qù xún xíng āi jí dì 。

Pha-ra-ôn đặt tên Giô-sép là Xa-phơ-nát-Pha-nê-ách, đưa nàng Aùch-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Oân, cho người làm vợ. Người thường tuần hành trong xứ Ê-díp-tô.

yuē sè jiàn āi jí wáng fǎ lǎo de shí hòu nián sān shí suì 。 tā cóng fǎ lǎo miàn qián chū qù , biàn xíng āi jí quán dì 。

Vả, khi Giô-sép ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, thì người đã ba mươi tuổi. Vậy, người từ tạ Pha-ra-ôn mà đi tuần khắp xứ Ê-díp-tô.

qī gè fēng nián zhī nèi , dì de chū chǎn jí fēng jí shèng ,

Trong bảy năm được mùa dư dật, đất sanh sản ra đầy dẫy.

yuē sè jù liǎn āi jí dì qī gè fēng nián yí qiè de liáng shí , bǎ liáng shí jī cún zài gè chéng lǐ ; gè chéng zhōu wéi tián dì de liáng shí dōu jī cún zài běn chéng lǐ 。

Giô-sép bèn thâu góp hết thảy lương thực của bảy năm đó trong xứ Ê-díp-tô, và chứa lương thực nầy khắp các thành; trong mỗi thành, đều dành chứa hoa lợi của các ruộng ở chung quanh thành đó.

yuē sè jī xù wǔ gǔ shèn duō , rú tóng hǎi biān de shā , wú fǎ jì suàn , yīn wèi gǔ bù kě shèng shǔ 。

Vậy, Giô-sép thâu góp lúa mì rất nhiều, như cát nơi bờ biển, cho đến đỗi người ta đếm không được, vì đầy dẫy vô số.

西

huāng nián wèi dào yǐ qián , ān chéng de jì sī bō tí fēi lā de nǚ ér yà xī nà gěi yuē sè shēng le liǎng gè ér zi 。

Trước khi đến năm đói kém, thì Aùch-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Oân, sanh cho Giô-sép hai con trai.

西:「 使。」

yuē sè gěi zhǎng zǐ qǐ míng jiào mǎ ná xī , yīn wèi tā shuō :「 shén shǐ wǒ wàng le yí qiè de kùn kǔ hé wǒ fù de quán jiā 。」

Giô-sép đặt tên đứa đầu lòng là Ma-na-se, vì nói rằng: Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên điều cực nhọc, và cả nhà cha ta.

:「 使。」

tā gěi cì zǐ qǐ míng jiào yǐ fǎ lián , yīn wèi tā shuō :「 shén shǐ wǒ zài shòu kǔ de dì fāng chāng shèng 。」

Người đặt tên đứa thứ nhì là Eùp-ra-im, vì nói rằng: Đức Chúa Trời làm cho ta được hưng vượng trong xứ mà ta bị khốn khổ.

āi jí dì de qī gè fēng nián yì wán ,

Bảy năm được mùa dư dật trong xứ Ê-díp-tô bèn qua,

qī gè huāng nián jiù lái le 。 zhèng rú yuē sè suǒ shuō de , gè dì dōu yǒu jī huāng ; wéi dú āi jí quán dì yǒu liáng shí 。

thì bảy năm đói kém khởi đến, y như lời Giô-sép đã bàn trước. Khắp các xứ khác cũng đều bị đói, nhưng trong cả xứ Ê-díp-tô lại có bánh.

:「。」

jí zhì āi jí quán dì yǒu le jī huāng , zhòng mín xiàng fǎ lǎo āi qiú liáng shí , fǎ lǎo duì tā men shuō :「 nǐ men wǎng yuē sè nà lǐ qù , fán tā suǒ shuō de , nǐ men dōu yào zuò 。」

Đoạn, cả xứ Ê-díp-tô đều bị đói, dân chúng đến kêu cầu Pha-ra-ôn xin lương. Pha-ra-ôn phán cùng bản dân rằng: Hãy đi đến Giô-sép, rồi làm theo lời người sẽ chỉ bảo cho.

dāng shí jī huāng biàn mǎn tiān xià , yuē sè kāi le gè chù de cāng , tiào liáng gěi āi jí rén ; zài āi jí dì jī huāng shèn dà 。

Khi khắp xứ bị đói kém, thì Giô-sép mở mọi kho lúa mà bán cho dân Ê-díp-tô.

gè dì de rén dōu wǎng āi jí qù , dào yuē sè nà lǐ dí liáng , yīn wèi tiān xià de jī huāng shèn dà 。

Xứ càng đói nhiều nữa; vả, vì khắp thế gian đều bị đói quá, nên đâu đâu cũng đổ đến Ê-díp-tô mua lúa nơi Giô-sép bán.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.