中文圣经

SÁNG THẾ 42

đã biết 0/280

:「

yǎ gè jiàn āi jí yǒu liáng , jiù duì ér zi men shuō :「 nǐ men wèi shén me bǐ cǐ guān wàng ne ?

Gia-cốp thấy xứ Ê-díp-tô có lúa bán ra, bèn nói cùng các con trai mình rằng: Sao bay ngơ ngẩn nhìn nhau vậy?

使。」

wǒ tīng jiàn āi jí yǒu liáng , nǐ men kě yǐ xià qù , cóng nà lǐ wèi wǒ men dí xiē lái , shǐ wǒ men kě yǐ cún huó , bú zhì yú sǐ 。」

Lại rằng: Nầy, cha nghe dưới xứ Ê-díp-tô có lúa bán; bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!

yú shì , yuē sè de shí gè gē ge dōu xià āi jí dí liáng qù le 。

Mười người anh của Giô-sép bèn xuống Ê-díp-tô đặng mua lúa.

便:「。」

dàn yuē sè de xiōng dì biàn yǎ mǐn , yǎ gè méi yǒu dǎ fā tā hé gē ge men tóng qù , yīn wèi yǎ gè shuō :「 kǒng pà tā zāo hài 。」

Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em Giô-sép, đi cùng các anh; vì nghĩ rằng: Ta nên giữ chừng, kẻo xảy ra điều rủi ro cho nó.

lái dí liáng de rén zhōng yǒu yǐ sè liè de ér zi men , yīn wèi jiā nán dì yě yǒu jī huāng 。

Xứ Ca-na-an bấy giờ cũng đói, nên các con trai của Y-sơ-ra-ên cũng đổ xuống Ê-díp-tô mua lúa như các người khác.

dāng shí zhì lǐ āi jí dì de shì yuē sè ; tiào liáng gěi nà dì zhòng mín de jiù shì tā 。 yuē sè de gē ge men lái le , liǎn fú yú dì , xiàng tā xià bài 。

Vả, lúc nầy, chính Giô-sép cai trị trong nước, và bán lúa cho cả dân bản xứ. Các anh Giô-sép bèn đến, sấp mình xuống trước mặt người.

:「?」:「。」

yuē sè kàn jiàn tā gē ge men , jiù rèn de tā men , què zhuāng zuò shēng rén , xiàng tā men shuō xiē yán lì huà , wèn tā men shuō :「 nǐ men cóng nǎ lǐ lái ?」 tā men shuō :「 wǒ men cóng jiā nán dì lái dí liáng 。」

Giô-sép thấy, nhìn biết các anh mình; nhưng giả làm mặt lạ cùng họ, nói một cách xẳng rằng: Các ngươi ở đâu đến? Đáp rằng: ỳ xứ Ca-na-an đến đặng mua lúa.

yuē sè rèn de tā gē ge men , tā men què bú rèn de tā 。

Vậy, Giô-sép nhìn biết các anh mình; nhưng họ nhìn lại chẳng ra.

:「。」

yuē sè xiǎng qǐ cóng qián suǒ zuò de nà liǎng gè mèng , jiù duì tā men shuō :「 nǐ men shì jiān xì , lái kuī tàn zhè dì de xū shí 。」

Giô-sép nhớ lại điềm chiêm bao mình đã thấy về anh em mình, liền thét rằng: Các ngươi là thám tử, đến đây đặng dòm hành những nơi yếu óp của xứ ta.

:「

tā men duì tā shuō :「 wǒ zhǔ a , bú shì de 。 pú rén men shì dí liáng lái de 。

Đáp rằng: Thưa chúa, chẳng phải vậy; các tôi tớ chúa đến đặng mua lúa mà thôi.

。」

wǒ men dōu shì yí gè rén de ér zi , shì chéng shí rén ; pú rén men bìng bú shì jiān xì 。」

Chúng tôi đây đều là con một cha, vốn nhà lương thiện, chẳng phải là thám tử đâu.

:「。」

yuē sè shuō :「 bù rán , nǐ men bì shì kuī tàn zhè dì de xū shí lái de 。」

Người đáp lại rằng: Chẳng phải; các ngươi đến đặng dòm hành những nơi yếu óp của xứ nầy.

:「。」

tā men shuō :「 pú rén men běn shì dì xiong shí èr rén , shì jiā nán dì yí gè rén de ér zǐ , dǐng xiǎo de xiàn jīn zài wǒ men de fù qīn nà lǐ , yǒu yí gè méi yǒu le 。」

Đáp rằng: Kẻ tôi tớ chúa có mười hai anh em, con của một cha, nguyên xứ Ca-na-an; nầy một người đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ hãy ở lại nhà cùng cha chúng tôi.

:「

yuē sè shuō :「 wǒ cái shuō nǐ men shì jiān xì , zhè huà shí zài bú cuò 。

Giô-sép nói: Aáy quả thật như ta đã nói, các ngươi là thám tử.

wǒ zhǐ zhāo fǎ lǎo de xìng mìng qǐ shì , ruò shì nǐ men de xiǎo xiōng dì bú dào zhè lǐ lái , nǐ men jiù bù dé chū zhè dì fāng , cóng cǐ jiù kě yǐ bǎ nǐ men zhèng yàn chū lái le 。

Đây là điều ta thử các ngươi: Ta chỉ mạng Pha-ra-ôn mà thề rằng, hễ em út các ngươi không đến đây thì chẳng bao giờ các ngươi ra khỏi chốn nầy được.

。」

xū yào dǎ fā nǐ men zhōng jiān yí gè rén qù , bǎ nǐ men de xiōng dì dài lái 。 zhì yú nǐ men , dōu yào qiú zài zhè lǐ , hǎo zhèng yàn nǐ men de huà zhēn bu zhēn , ruò bù zhēn , wǒ zhǐ zhāo fǎ lǎo de xìng mìng qǐ shì , nǐ men yí dìng shì jiān xì 。」

Hãy sai một người nào trong bọn các ngươi về dẫn em út xuống; còn bao nhiêu thì phải ở tù lại đây. Lời các ngươi phải thử đã, rồi ta sẽ biết các ngươi nói đó có quả thật chăng. Nếu chẳng thật, thì ta chỉ mạng Pha-ra-ôn thề rằng, các ngươi là thám tử đó.

yú shì yuē sè bǎ tā men dōu xià zài jiān lǐ sān tiān 。

Đoạn, Giô-sép truyền đem giam họ chung trong ngục ba ngày.

:「

dào dì sān tiān , yuē sè duì tā men shuō :「 wǒ shì jìng wèi shén de ; nǐ men zhào wǒ de huà xíng jiù kě yǐ cún huó 。

Ngày thứ ba, Giô-sép nói cùng họ rằng: Ta kính sợ Đức Chúa Trời; hãy làm như điều nầy, thì được sống.

nǐ men rú guǒ shì chéng shí rén , kě yǐ liú nǐ men zhōng jiān de yí gè rén qiú zài jiān lǐ , dàn nǐ men kě yǐ dài zhe liáng shí huí qù , jiù nǐ men jiā lǐ de jī huāng 。

Nếu các ngươi vốn nhà lương thiện, thì hãy để một người nào ở tù lại đây, còn bao nhiêu đem lương thực về nuôi đói cho nhà các ngươi.

便。」

bǎ nǐ men de xiǎo xiōng dì dài dào wǒ zhè lǐ lái , rú cǐ , nǐ men de huà biàn yǒu zhèng jù , nǐ men yě bú zhì yú sǐ 。」 tā men jiù zhào yàng ér xíng 。

Đoạn, hãy dẫn em út xuống đây, thì lời các ngươi sẽ cho là thật, và các ngươi chẳng phải chết. Vậy, họ nghe theo.

:「。」

tā men bǐ cǐ shuō :「 wǒ men zài xiōng dì shēn shàng shí zài yǒu zuì 。 tā āi qiú wǒ men de shí hòu , wǒ men jiàn tā xīn lǐ de chóu kǔ , què bù kěn tīng , suǒ yǐ zhè chǎng kǔ nàn lín dào wǒ men shēn shàng 。」

Họ bèn nói với nhau rằng: Quả thật chúng ta cam tội cùng em ta rồi; vì lúc trước ta thấy tâm hồn nó buồn thảm khi nó xin nhờ ơn, nhưng ta không khứng cho; vậy nên tai vạ nầy mới xảy đến cho chúng ta.

便:「。」

lǚ biàn shuō :「 wǒ qǐ bú shì duì nǐ men shuō guò , bù kě shāng hài nà hái zǐ ma ? zhǐ shì nǐ men bù kěn tīng , suǒ yǐ liú tā xuè de zuì xiàng wǒ men zhuī tǎo 。」

Ru-bên đáp rằng: Anh há không có nói cùng các em rằng: Chớ phạm tội nầy cùng đứa trẻ đó sao? Nhưng các em không nghe; nên bây giờ huyết nó đòi chúng ta thường lại.

tā men bù zhī dào yuē sè tīng dé chū lái , yīn wèi zài tā men zhōng jiān yòng tōng shì chuán huà 。

Vả, Giô-sép vẫn dùng người thông ngôn nói chuyện lại cùng các anh, nên họ tưởng Giô-sép chẳng nghe hiểu.

退西

yuē sè zhuǎn shēn tuì qù , kū le yì chǎng , yòu huí lái duì tā men shuō huà , jiù cóng tā men zhōng jiān tiāo chū xī miǎn lái , zài tā men yǎn qián bǎ tā kǔn bǎng 。

Giô-sép xây mặt qua chỗ khác mà khóc. Đoạn xây mặt lại nói chuyện cùng họ; bèn bắt Si-mê-ôn trong vòng anh em, truyền trói lại trước mặt họ.

yuē sè fēn fù rén bǎ liáng shí zhuāng mǎn tā men de qì jù , bǎ gè rén de yín zi guī huán zài gè rén de kǒu dài lǐ , yòu gěi tā men lù shang yòng de shí wù , rén jiù zhào tā de huà bàn le 。

Giô-sép truyền đầy tớ xúc lúa đổ đầy bao và để bạc lại trong đó cho mỗi người anh em, cũng để thêm lương thực dùng dọc đường. Đầy tớ làm y như lời.

tā men jiù bǎ liáng shí tuó zài lǘ shàng , lí kāi nà lǐ qù le 。

Đoạn, anh em chất mấy bao lúa lên lưng lừa, rồi đi.

宿

dào le zhù sù de dì fāng , tā men zhōng jiān yǒu yí gè rén dǎ kāi kǒu dài , yào ná liào wèi lǘ , cái kàn jiàn zì jǐ de yín zi réng zài kǒu dài lǐ ,

Đến quán, một người trong bọn mở bao ra cho lừa ăn thóc, thấy bạc mình ở tại miệng bao;

:「!」:「 ?」

jiù duì dì xiong men shuō :「 wǒ de yín zi guī huán le , kàn nǎ , réng zài wǒ kǒu dài lǐ !」 tā men jiù tí xīn diào dǎn , zhàn zhàn jīng jīng dì bǐ cǐ shuō :「 zhè shì shén xiàng wǒ men zuò shén me ne ?」

bèn nói cùng anh em rằng: Bạc của tôi trả lại, hiện trong bao tôi đây! Các anh em nhát gan, vừa nói với nhau, vừa run, mà rằng: Đức Chúa Trời đã làm chi cho chúng ta đây?

tā men lái dào jiā nán dì 、 tā men de fù qīn yǎ gè nà lǐ , jiāng suǒ zāo yù de shì dōu gào sù tā , shuō :

Các anh em trở về cùng Gia-cốp, cha mình, tại xứ Ca-na-an, thuật lại cho người nghe mọi nỗi đã xảy đến, rằng:

「 nà dì de zhǔ duì wǒ men shuō yán lì de huà , bǎ wǒ men dàng zuò kuī tàn nà dì de jiān xì 。

người đang làm chúa tại xứ Ê-díp-tô nói với chúng tôi cách xẳng xớm, cho chúng tôi là thám tử.

:『

wǒ men duì tā shuō :『 wǒ men shì chéng shí rén , bìng bú shì jiān xì 。

Song chúng tôi có thưa cùng người rằng: Chúng tôi vốn nhà lương thiện, nào có phải là thám tử đâu.

。』

wǒ men běn shì dì xiong shí èr rén , dōu shì yí gè fù qīn de ér zi , yǒu yí gè méi yǒu le , dǐng xiǎo de rú jīn tóng wǒ men de fù qīn zài jiā nán dì 。』

Chúng tôi được mười hai anh em, con một cha; một người đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ ở nhà cùng cha, tại xứ Ca-na-an.

:『

nà dì de zhǔ duì wǒ men shuō :『 ruò yào wǒ zhī dào nǐ men shì chéng shí rén , kě yǐ liú xià nǐ men zhōng jiān de yí gè rén zài wǒ zhè lǐ , nǐ men kě yǐ dài zhe liáng shí huí qù , jiù nǐ men jiā lǐ de jī huāng 。

Người làm chúa xứ đó dạy rằng: Làm như vầy, ta mới cho các ngươi là lương thiện: Hãy để lại cùng ta một người nào trong bọn các ngươi, còn bao nhiêu sẽ đem lương thực về nuôi đói cho nhà các ngươi;

便。』」

bǎ nǐ men de xiǎo xiōng dì dài dào wǒ zhè lǐ lái , wǒ biàn zhī dào nǐ men bú shì jiān xì , nǎi shì chéng shí rén 。 zhè yàng , wǒ jiù bǎ nǐ men de dì xiong jiāo gěi nǐ men , nǐ men yě kě yǐ zài zhè dì zuò mǎi mài 。』」

đoạn, hãy dẫn em út đến cho ta. Vậy, ta mới biết rằng các ngươi chẳng phải là thám tử, nhưng là người lương thiện; ta sẽ giao em lại cho, và các ngươi sẽ được buôn bán trong xứ nầy.

hòu lái tā men dǎo kǒu dài , bú liào , gè rén de yín bāo dōu zài kǒu dài lǐ ; tā men hé fù qīn kàn jiàn yín bāo jiù dōu hài pà 。

Vả, đang khi các anh em trút lúa mì ra bao, nầy đâu, trong mỗi bao có gói bạc của mỗi người; cha và các anh em thấy những gói bạc mình, đều lấy làm sợ hãi.

:「使西便。」

tā men de fù qīn yǎ gè duì tā men shuō :「 nǐ men shǐ wǒ sàng shī wǒ de ér zi : yuē sè méi yǒu le , xī miǎn yě méi yǒu le , nǐ men yòu yào jiāng biàn yǎ mǐn dài qù ; zhè xiē shì dōu guī dào wǒ shēn shàng le 。」

Gia-cốp, cha họ bèn nói rằng: Bay làm mất các con tao; Giô-sép đã mất biệt, Si-mê-ôn cũng mất biệt; mà bây giờ, lại muốn dẫn Bên-gia-min đi nữa sao! Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!

便:「。」

lǚ biàn duì tā fù qīn shuō :「 wǒ ruò bú dài tā huí lái jiāo gěi nǐ , nǐ kě yǐ shā wǒ de liǎng gè ér zi 。 zhǐ guǎn bǎ tā jiāo zài wǒ shǒu lǐ , wǒ bì dài tā huí lái jiāo gěi nǐ 。」

Ru-bên thưa lại cùng cha rằng: Cha hãy giao em nơi tôi, tôi sẽ dẫn về cho. Ví bằng chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai tôi đi.

:「便使。」

yǎ gè shuō :「 wǒ de ér zi bù kě yǔ nǐ men yì tóng xià qù ; tā gē ge sǐ le , zhī shèng xià tā , tā ruò zài nǐ men suǒ xíng de lù shang zāo hài , nà biàn shì nǐ men shǐ wǒ bái fà cāng cāng 、 bēi bēi cǎn cǎn dì xià yīn jiān qù le 。」

Nhưng Gia-cốp đáp rằng: Con út tao sẽ chẳng đi xuống với bay đâu; vì anh nó đã chết rồi, chỉ còn một mình nó mà thôi. Nếu điều rủi ro chi xảy đến cho nó nơi dọc đường bay đi, tức nhiên bay làm cho kẻ tóc bạc nầy đau lòng xót dạ xuống âm phủ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.