中文圣经

SÁNG THẾ 43

đã biết 0/300

nà dì de jī huāng shèn dà 。

Vả, sự đói kém trong xứ lớn lắm.

:「。」

tā men cóng āi jí dài lái de liáng shí chī jìn le , tā men de fù qīn jiù duì tā men shuō :「 nǐ men zài qù gěi wǒ dí xiē liáng lái 。」

Khi nội nhà đã ăn hết lương thực ở xứ Ê-díp-tô đem về rồi, thì cha các người ấy dạy rằng: Bay hãy trở xuống mua một ít lương thực cho chúng ta.

:「:『。』

yóu dà duì tā shuō :「 nà rén zhūn zhūn dì gào jiè wǒ men shuō :『 nǐ men de xiōng dì ruò bù yǔ nǐ men tóng lái , nǐ men jiù bù dé jiàn wǒ de miàn 。』

Giu-đa thưa: Người đó có nói quyết cùng các con rằng: Ví em út không theo xuống với các ngươi, thì sẽ không bao giờ thấy mặt ta.

nǐ ruò dǎ fā wǒ men de xiōng dì yǔ wǒ men tóng qù , wǒ men jiù xià qù gěi nǐ dí liáng ;

Nếu cha cho em đi với, thì chúng tôi mới xuống Ê-díp-tô mua lương thực cho cha được.

:『。』」

nǐ ruò bù dǎ fā tā qù , wǒ men jiù bú xià qù , yīn wèi nà rén duì wǒ men shuō :『 nǐ men de xiōng dì ruò bù yǔ nǐ men tóng lái , nǐ men jiù bù dé jiàn wǒ de miàn 。』」

Bằng không, thì chúng tôi chẳng trở xuống đâu, vì người đó đã nói rằng: Ví em út không theo xuống với các ngươi, thì sẽ không bao giờ thấy mặt ta.

:「?」

yǐ sè liè shuō :「 nǐ men wèi shén me zhè yàng hài wǒ , gào sù nà rén nǐ men hái yǒu xiōng dì ne ?」

Y-sơ-ra-ên quở rằng: Sao bay khéo tệ cùng tao, mà tỏ cho người ấy rằng bay còn một em nữa?

:「:『?』?」

tā men huí dá shuō :「 nà rén xiáng xì wèn dào wǒ men hé wǒ men de qīn shǔ , shuō :『 nǐ men de fù qīn hái zài ma ? nǐ men hái yǒu xiōng dì ma ?』 wǒ men jiù àn zhe tā suǒ wèn de gào sù tā , yān néng zhī dào tā yào shuō 『 bì xū bǎ nǐ men de xiōng dì dài xià lái 』 ne ?」

Thưa rằng: Người đó hỏi kỹ càng về chúng tôi, và về bà con chúng tôi rằng: Thân-phụ các ngươi còn sống chăng? còn có một người anh em nào nữa chăng? Chúng tôi có đáp các lời hỏi đó. Há dễ biết người đó sẽ dặn chúng tôi rằng: Hãy đem em út xuống đây, sao?

:「

yóu dà yòu duì tā fù qīn yǐ sè liè shuō :「 nǐ dǎ fā tóng zǐ yǔ wǒ tóng qù , wǒ men jiù qǐ shēn xià qù , hǎo jiào wǒ men hé nǐ , bìng wǒ men de fù rén hái zi , dōu dé cún huó , bú zhì yú sǐ 。

Giu-đa lại thưa cùng Y-sơ-ra-ên cha mình, rằng: Hãy cho đứa trẻ theo con, thì chúng tôi sẽ đứng dậy đi, hầu cho chúng ta, nào các con, nào cha, nào các cháu của cha đây đều được sống và khỏi chết.

wǒ wèi tā zuò bǎo ; nǐ kě yǐ cóng wǒ shǒu zhōng zhuī tǎo , wǒ ruò bú dài tā huí lái jiāo zài nǐ miàn qián , wǒ qíng yuàn yǒng yuǎn dān zuì 。

Con sẽ bảo lãnh em cho; cha sẽ cứ nơi con mà đòi em. Nếu không dẫn em về không để em trước mặt cha, thì con đây sẽ cam tội cùng cha mãi mãi.

。」

wǒ men ruò méi yǒu dān gē , rú jīn dì èr cì dōu huí lái le 。」

Vả, nếu không có điều dùng dằng, thì chúng tôi đã đi và về được hai lần rồi.

:「

tā men de fù qīn yǐ sè liè shuō :「 ruò bì xū rú cǐ , nǐ men jiù dāng zhè yàng xíng : kě yǐ jiāng zhè dì tǔ chǎn zhōng zuì hǎo de rǔ xiāng 、 fēng mì 、 xiāng liào 、 mò yào 、 fěi zǐ 、 xìng rén dōu qǔ yì diǎn , shōu zài qì jù lǐ , dài xià qù sòng gěi nà rén zuò lǐ wù ,

Đoạn, Y-sơ-ra-ên, cha các anh em, nói rằng: Nếu việc đã thể kia, thì bay phải làm thể nầy: Hãy lấy trong đồ hành lý những thổ sản quí nhất của xứ ta: một ít nhũ hương và mật ong, các hương hoa và một dược, phi tử và hạnh nhân, đem dâng cho người đó làm của lễ.

yòu yào shǒu lǐ jiā bèi dì dài yín zi , bìng jiāng guī huán zài nǐ men kǒu dài nèi de yín zi réng dài zài shǒu lǐ ; nà huò zhě shì cuò le 。

Hãy đem theo một số tiền bằng hai, đặng thối hồi tiền mà họ đã để lại nơi miệng bao của bay: có lẽ là một sự lộn chăng.

yě dài zhe nǐ men de xiōng dì , qǐ shēn qù jiàn nà rén 。

Bay hãy đứng dậy đi, dẫn em út theo và trở xuống đến người đó.

使便!」

dàn yuàn quán néng de shén shǐ nǐ men zài nà rén miàn qián méng lián mǐn , shì fàng nǐ men de nà dì xiong hé biàn yǎ mǐn huí lái 。 wǒ ruò sàng le ér zi , jiù sàng le ba !」

Cầu xin Đức Chúa Trời toàn năng xui cho bay được ơn trước mặt người, và tha đứa em kia và Bên-gia-min cho bay. Còn phần cha, nếu phải mất con, thì cha chịu phận vậy!

便

yú shì , tā men ná zhe nà lǐ wù , yòu shǒu lǐ jiā bèi dì dài yín zǐ , bìng qiě dài zhe biàn yǎ mǐn , qǐ shēn xià dào āi jí , zhàn zài yuē sè miàn qián 。

Vậy, các anh em đem theo của lễ và một số tiền bằng hai, cùng dẫn Bên-gia-min đồng đứng dậy đi xuống Ê-díp-tô, mà ra mắt Giô-sép.

便:「。」

yuē sè jiàn biàn yǎ mǐn hé tā men tóng lái , jiù duì jiā zǎi shuō :「 jiāng zhè xiē rén lǐng dào wū lǐ 。 yào zǎi shā shēng chù , yù bèi yán xí , yīn wèi shǎng wǔ zhè xiē rén tóng wǒ chī fàn 。」

Vừa khi Giô-sép thấy Bên-gia-min đi theo xuống với, bèn truyền cho quản gia rằng: Hãy đưa các người nầy vào nhà trong, bắt con gì làm thịt và nấu dọn đi; vì trưa nầy họ sẽ dùng bữa cùng ta.

jiā zǎi jiù zūn zhe yuē sè de mìng qù xíng , lǐng tā men jìn yuē sè de wū lǐ 。

Quản gia làm theo y như lời dặn, đưa họ vào nhà Giô-sép.

:「。」

tā men yīn wèi bèi lǐng dào yuē sè de wū lǐ , jiù hài pà , shuō :「 lǐng wǒ men dào zhè lǐ lái , bì shì yīn wèi tóu cì guī huán zài wǒ men kǒu dài lǐ de yín zi , zhǎo wǒ men de cuò fèng , xià shǒu hài wǒ men , qiáng qǔ wǒ men wèi nú pú , qiǎng duó wǒ men de lǘ 。」

Anh em thấy mình phải đưa vào nhà Giô-sép, thì sợ hãi, và nói với nhau rằng: Aáy cũng vì số tiền đã để lại vào bao chúng ta lần trước, nên họ mới đem chúng ta vào chốn nầy, đặng tìm cớ xông vào đánh chúng ta, bắt chúng ta làm tôi mọi, và chiếm đoạt mấy con lừa của chúng ta.

tā men jiù āi jìn yuē sè de jiā zǎi , zài wū mén kǒu hé tā shuō huà ,

Mấy anh em bèn đến gần quản gia của Giô-sép, thưa cùng người tại ngoài cửa

:「

shuō :「 wǒ zhǔ a , wǒ men tóu cì xià lái shí zài shì yào dí liáng 。

mà rằng: Xin chúa tha lỗi cho! anh em chúng tôi đã đến đây một lần rồi, đặng mua lương thực;

宿

hòu lái dào le zhù sù de dì fāng , wǒ men dǎ kāi kǒu dài , bú liào , gè rén de yín zi , fēn liáng zú shù , réng zài gè rén de kǒu dài nèi , xiàn zài wǒ men shǒu lǐ yòu dài huí lái le 。

và khi trở về đến nhà quán, mở các bao ra, nầy số bạc của mỗi người đều ở tại miệng bao mình; cân nặng bao nhiêu đều y như bấy nhiêu. Nầy, chúng tôi có đem lại số bạc đó,

。」

lìng wài yòu dài xià yín zi lái dí liáng 。 bù zhī dào xiān qián shuí bǎ yín zi fàng zài wǒ men de kǒu dài lǐ 。」

và cũng có đem thêm số bạc nữa đặng mua lương thực. Chẳng biết ai để bạc lại trong bao chúng tôi.

:「 。」西

jiā zǎi shuō :「 nǐ men kě yǐ fàng xīn , bú yào hài pà , shì nǐ men de shén hé nǐ men fù qīn de shén cì gěi nǐ men cái bǎo zài nǐ men de kǒu dài lǐ ; nǐ men de yín zi , wǒ zǎo yǐ shōu le 。」 tā jiù bǎ xī miǎn dài chū lái , jiāo gěi tā men 。

Quản gia đáp rằng: Mọi việc đều bình yên! đừng sợ chi cả! Aáy là Đức Chúa Trời của các ngươi, tức Đức Chúa Trời của cha các ngươi, đã ban vật quí vào bao. Còn bạc các ngươi thì đã có giao cho ta. Đoạn, người dẫn Si-mê-ôn đến cùng anh em;

jiā zǎi jiù lǐng tā men jìn yuē sè de wū lǐ , gěi tā men shuǐ xǐ jiǎo , yòu gěi tā men cǎo liào wèi lǘ 。

rồi đưa anh em vào nhà Giô-sép, đem nước ra cho rửa chân, và cũng cho những lừa ăn cỏ nữa.

tā men jiù yù bèi nà lǐ wù , děng hòu yuē sè shǎng wǔ lái , yīn wèi tā men tīng jiàn yào zài nà lǐ chī fàn 。

Các anh em bèn sửa soạn của lễ, đợi trưa Giô-sép về; vì có hay rằng mình sẽ ăn bữa tại nhà nầy.

yuē sè lái dào jiā lǐ , tā men jiù bǎ shǒu zhōng de lǐ wù ná jìn wū qù gěi tā , yòu fǔ fú zài dì , xiàng tā xià bài 。

Khi Giô-sép trở về, các anh em bèn lấy của lễ đã đem theo, dâng cho Giô-sép tại nhà; rồi cùng sấp mình xuống đất trước mặt người.

:「?」

yuē sè wèn tā men hǎo , yòu wèn :「 nǐ men de fù qīn — jiù shì nǐ men suǒ shuō de nà lǎo rén jiā píng ān ma ? tā hái zài ma ?」

Người liền hỏi thăm họ mạnh giỏi thể nào, và nói rằng: Người cha già mà các ngươi đã nói cùng ta đó được mạnh khỏe chăng? còn sống chăng?

:「。」

tā men huí dá shuō :「 nǐ pú rén — wǒ men de fù qīn píng ān ; tā hái zài 。」 yú shì tā men dī tóu xià bài 。

Đáp rằng: Kẻ tôi tớ chúa, là cha chúng tôi, vẫn mạnh khỏe và còn sống. Đoạn, họ cúi đầu và lạy.

便:「?」:「 !」

yuē sè jǔ mù kàn jiàn tā tóng mǔ de xiōng dì biàn yǎ mǐn , jiù shuō :「 nǐ men xiàng wǒ suǒ shuō nà dǐng xiǎo de xiōng dì jiù shì zhè wèi ma ?」 yòu shuō :「 xiǎo ér a , yuàn shén cì ēn gěi nǐ !」

Giô-sép nhướng mắt thấy Bên-gia-min, em ruột, con trai của mẹ mình, thì hỏi rằng: Đó có phải em út mà các ngươi đã nói cùng ta chăng? Và tiếp rằng: Con út ơi! cầu xin Đức Chúa Trời làm ơn cho ngươi!

yuē sè ài dì zhī qíng fā dòng , jiù jí máng xún zhǎo kě kū zhī dì , jìn rù zì jǐ de wū lǐ , kū le yì chǎng 。

Vì thấy em mình, nên Giô-sép tất lòng cảm động, lật đật bước ra ngoài, tìm nơi nào đặng khóc. Người vào phòng nhà trong và khóc.

tā xǐ le liǎn chū lái , miǎn qiǎng yǐn rěn , fēn fù rén bǎi fàn 。

Đoạn, rửa mặt, bước ra, làm bộ chắc gan mà nói rằng: Hãy dọn bữa ăn đi.

tā men jiù wèi yuē sè dān bǎi le yì xí , wèi nà xiē rén yòu bǎi le yì xí , yě wèi hé yuē sè tóng chī fàn de āi jí rén lìng bǎi le yì xí , yīn wèi āi jí rén bù kě hé xī bó lái rén yì tóng chī fàn ; nà yuán shì āi jí rén suǒ yàn wù de 。

Người ta dọn cho Giô-sép ăn riêng, và cho các anh em ăn riêng. Người Ê-díp-tô ăn chung cùng người cũng dọn cho ngồi riêng nữa; vì người Ê-díp-tô có tánh gớm người Hê-bơ-rơ, nên không ăn chung được.

使

yuē sè shǐ zhòng dì xiong zài tā miàn qián pái liè zuò xí , dōu àn zhe cháng yòu de cì xù , zhòng dì xiong jiù bǐ cǐ chà yì 。

Vậy, các anh em bèn ngồi lại trước mặt Giô-sép, lớn nhỏ tùy theo thứ tự mình, ngơ ngẩn mà nhìn nhau.

便

yuē sè bǎ tā miàn qián de shí wù fēn chū lái , sòng gěi tā men ; dàn biàn yǎ mǐn suǒ dé de bǐ bié rén duō wǔ bèi 。 tā men jiù yǐn jiǔ , hé yuē sè yì tóng yàn lè 。

Giô-sép sai đem mấy món đồ ăn trước mặt mình cho các anh em; nhưng phần Bên-gia-min lại nhiều gấp năm của các người khác. Họ uống và ăn ngon vui cùng Giô-sép.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.