中文圣经

SÁNG THẾ 5

đã biết 0/108

。(

yà dāng de hòu dài jì zài xià miàn 。( dāng shén zào rén de rì zi , shì zhào zhe zì jǐ de yàng shì zào de ,

Đây là sách chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời;

」。)

bìng qiě zào nán zào nǚ 。 zài tā men bèi zào de rì zi , shén cì fú gěi tā men , chēng tā men wèi 「 rén 」。)

Ngài dựng nên người nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên là người.

yà dāng huó dào yì bǎi sān shí suì , shēng le yí gè ér zi , xíng xiàng yàng shì hé zì jǐ xiāng sì , jiù gěi tā qǐ míng jiào sāi tè 。

Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống như hình tượng mình, đặt tên là Sết.

yà dāng shēng sāi tè zhī hòu , yòu zài shì bā bǎi nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.

yà dāng gòng huó le jiǔ bǎi sān shí suì jiù sǐ le 。

Vậy, A-đam hưởng thọ được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.

sāi tè huó dào yì bǎi líng wǔ suì , shēng le yǐ nuó shì 。

Sết được một trăm năm tuổi, sanh Ê-nót.

sāi tè shēng yǐ nuó shì zhī hòu , yòu huó le bā bǎi líng qī nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống được tám trăm bảy năm, sanh con trai con gái.

sāi tè gòng huó le jiǔ bǎi yī shí èr suì jiù sǐ le 。

Vậy, Sết hưởng thọ được chín trăm mười hai tuổi, rồi qua đời.

yǐ nuó shì huó dào jiǔ shí suì , shēng le gāi nán 。

Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh Kê-nan.

yǐ nuó shì shēng gāi nán zhī hòu , yòu huó le bā bǎi yī shí wǔ nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Ê-nót sanh Kê-nan rồi, còn sống được tám trăm mười lăm năm, sanh con trai con gái.

yǐ nuó shì gòng huó le jiǔ bǎi líng wǔ suì jiù sǐ le 。

Vậy, Ê-nót hưởng thọ được chín trăm năm tuổi, rồi qua đời.

gāi nán huó dào qī shí suì , shēng le mǎ lè liè 。

Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh Ma-ha-la-le.

gāi nán shēng mǎ lè liè zhī hòu , yòu huó le bā bǎi sì shí nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Kê-nan sanh Ma-ha-la-le rồi, còn sống được tám trăm bốn mươi năm, sanh con trai con gái.

gāi nán gòng huó le jiǔ bǎi yī shí suì jiù sǐ le 。

Vậy, Kê-nan hưởng thọ được chín trăm mười tuổi, rồi qua đời.

mǎ lè liè huó dào liù shí wǔ suì , shēng le yǎ liè 。

Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sanh Giê-rệt.

mǎ lè liè shēng yǎ liè zhī hòu , yòu huó le bā bǎi sān shí nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt, còn sống được tám trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.

mǎ lè liè gòng huó le bā bǎi jiǔ shí wǔ suì jiù sǐ le 。

Vậy, Ma-ha-la-le hưởng thọ được tám trăm chín mươi lăm tuổi, rồi qua đời.

yǎ liè huó dào yì bǎi liù shí èr suì , shēng le yǐ nuò 。

Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.

yǎ liè shēng yǐ nuò zhī hòu , yòu huó le bā bǎi nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Giê-rệt sanh Hê-nóc rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.

yǎ liè gòng huó le jiǔ bǎi liù shí èr suì jiù sǐ le 。

Vậy, Giê-rệt hưởng thọ được chín trăm sáu mươi hai tuổi, rồi qua đời.

yǐ nuò huó dào liù shí wǔ suì , shēng le mǎ tǔ sā lā 。

Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.

yǐ nuò shēng mǎ tǔ sā lā zhī hòu , yǔ shén tóng háng sān bǎi nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái.

yǐ nuò gòng huó le sān bǎi liù shí wǔ suì 。

Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ban trăm sáu mươi lăm tuổi.

yǐ nuò yǔ shén tóng háng , shén jiāng tā qǔ qù , tā jiù bú zài shì le 。

Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.

mǎ tǔ sā lā huó dào yì bǎi bā shí qī suì , shēng le lā mài 。

Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sanh Lê-méc.

mǎ tǔ sā lā shēng lā mài zhī hòu , yòu huó le qī bǎi bā shí èr nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Mê-tu-sê-la sanh Lê-méc rồi, còn sống được bảy trăm tám mươi hai năm, sanh con trai con gái.

mǎ tǔ sā lā gòng huó le jiǔ bǎi liù shí jiǔ suì jiù sǐ le 。

Vậy, Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua đời.

lā mài huó dào yì bǎi bā shí èr suì , shēng le yí gè ér zi ,

Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai,

:「。」

gěi tā qǐ míng jiào nuó yà , shuō :「 zhè ge ér zi bì wèi wǒ men de cāo zuò hé shǒu zhōng de láo kǔ ān wèi wǒ men ; zhè cāo zuò láo kǔ shì yīn wèi yē hé huá zhòu zǔ dì 。」

Đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả.

lā mài shēng nuó yà zhī hòu , yòu huó le wǔ bǎi jiǔ shí wǔ nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Lê-méc sanh Nô-ê rồi, còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm, sanh con trai con gái.

lā mài gòng huó le qī bǎi qī shí qī suì jiù sǐ le 。

Vậy, Lê-méc hưởng thọ được bảy trăm bảy mươi bảy tuổi, rồi qua đời.

nuó yà wǔ bǎi suì shēng le shǎn 、 hán 、 yǎ fú 。

Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sanh Sem Cham và Gia-phết.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.