中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 37

đã biết 0/217

西西

yuē xī yà de ér zi xī dǐ jiā dài tì yuē yǎ jìng de ér zi gē ní yǎ wèi wáng , shì bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā lì zài yóu dà dì zuò wáng de 。

Sê-đê-kia, con trai Giô-si-a, trị vì thay cho Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vì vua của Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa đã lập người lên làm vua đất Giu-đa.

西

dàn xī dǐ jiā hé tā de chén pú , bìng guó zhōng de bǎi xìng , dōu bù tīng cóng yē hé huá jiè xiān zhī yē lì mǐ suǒ shuō de huà 。

Nhưng vua cùng bầy tôi và dân sự trong đất đều không nghe những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán bởi miệng tiên tri Giê-rê-mi.

西西西:「 。」

xī dǐ jiā wáng dǎ fā shì lì mǐ yǎ de ér zi yóu jiǎ hé jì sī mǎ xī yǎ de ér zi xī fān yǎ qù jiàn xiān zhī yē lì mǐ , shuō :「 qiú nǐ wèi wǒ men dǎo gào yē hé huá — wǒ men de shén 。」

Vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can, con trai Sê-lê-mia, và Sô-phô-ni, con trai thầy tế lễ Ma-a-sê-gia, đến cùng tiên tri Giê-rê-mi mà nói rằng: Xin vì chúng tôi cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.

nà shí yē lì mǐ zài mín zhōng chū rù , yīn wèi tā men hái méi yǒu bǎ tā qiú zài jiān lǐ 。

Bấy giờ Giê-rê-mi còn đang đi lại trong dân sự, chưa bị bỏ tù.

fǎ lǎo de jūn duì yǐ jīng cóng āi jí chū lái , nà wéi kùn yē lù sā lěng de jiā lè dǐ rén tīng jiàn tā men de fēng shēng , jiù bá yíng lí kāi yē lù sā lěng qù le 。

Đạo binh của Pha-ra-ôn đã ra từ Ê-díp-tô; những người Canh-đê đang vây thành Giê-ru-sa-lem nghe tin đó, thì mở vây khỏi thành ấy.

yē hé huá de huà lín dào xiān zhī yē lì mǐ shuō :

Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi rằng:

:『

「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : yóu dà wáng dǎ fā nǐ men lái qiú wèn wǒ , nǐ men yào rú cǐ duì tā shuō :『 nà chū lái bāng zhù nǐ men fǎ lǎo de jūn duì bì huí āi jí běn guó qù 。

Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi khá tâu cùng vua Giu-đa, là người đã sai các ngươi đến hỏi ta, rằng: Nầy, đạo binh của Pha-ra-ôn đã ra cứu các ngươi, thì sẽ lui về đất mình, tức trong Ê-díp-tô.

jiā lè dǐ rén bì zài lái gōng dǎ zhè chéng , bìng yào gōng qǔ , yòng huǒ fén shāo 。

Những người Canh-đê sẽ trở lại, đánh thành nầy, chiếm lấy, và dùng lửa đốt đi.

」,

yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ men bú yào zì qī shuō 「 jiā lè dǐ rén bì dìng lí kāi wǒ men 」, yīn wèi tā men bì bù lí kāi 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ tự dối mình mà rằng: Người Canh-đê chắc sẽ đi khỏi chúng ta; vì chúng nó sẽ không dời khỏi đâu.

便。』」

nǐ men jí biàn shā bài le yǔ nǐ men zhēng zhàn de jiā lè dǐ quán jūn , dàn shèng xià shòu shāng de rén yě bì gè rén cóng zhàng péng lǐ qǐ lái , yòng huǒ fén shāo zhè chéng 。』」

Dầu các ngươi đánh cả đạo binh của người Canh-đê đến đánh trận nghịch cùng các ngươi, trong chúng nó chỉ còn lại những kẻ bị thương tích, nhưng ai nấy cũng sẽ từ trong trại mình dấy lên mà dùng lửa đốt thành nầy.

jiā lè dǐ de jūn duì yīn pà fǎ lǎo de jūn duì , bá yíng lí kāi yē lù sā lěng de shí hòu ,

Khi đạo binh người Canh-đê mở vây khỏi thành Giê-ru-sa-lem, vì sợ đạo binh Pha-ra-ôn,

便

yē lì mǐ jiù zá zài mín zhōng chū lí yē lù sā lěng , yào wǎng biàn yǎ mǐn dì qù , zài nà lǐ dé zì jǐ de dì yè 。

thì Giê-rê-mi ra khỏi Giê-ru-sa-lem đặng đi trong đất Bên-gia-min, để nhận phần của mình giữa dân đó.

便:「!」

tā dào le biàn yǎ mǐn mén nà lǐ , yǒu shǒu mén guān míng jiào yī lì yǎ , shì hā ná ní yà de sūn zi 、 shì lì mǐ yǎ de ér zǐ , tā jiù ná zhù xiān zhī yē lì mǐ , shuō :「 nǐ shì tóu xiáng jiā lè dǐ rén nǎ !」

Nhưng lúc đến cửa Bên-gia-min, thì có người đốc canh tên là Gi-rê-gia, con trai Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia, ở đó; tên nầy bắt tiên tri Giê-rê-mi mà rằng: Ngươi là kẻ hàng đầu người Canh-đê!

:「。」

yē lì mǐ shuō :「 nǐ zhè shì huǎng huà , wǒ bìng bú shì tóu xiáng jiā lè dǐ rén 。」 yī lì yǎ bù tīng tā de huà , jiù ná zhù tā , jiě dào shǒu lǐng nà lǐ 。

Giê-rê-mi đáp rằng: Nói bướng! ta không hàng đầu người Canh-đê đâu. Nhưng Gi-rê-gia không nghe, cứ bắt Giê-rê-mi mà dắt đến trước mặt các quan trưởng.

shǒu lǐng nǎo nù yē lì mǐ , jiù dǎ le tā , jiāng tā qiú zài wén shì yuē ná dān de fáng wū zhōng , yīn wèi tā men yǐ zhè fáng wū dàng zuò jiān láo 。

Các quan trưởng giận Giê-rê-mi; bèn đánh đòn và giam trong nhà thơ ký Giô-na-than; vì người ta lấy nhà đó làm cái ngục.

yē lì mǐ lái dào yù zhōng , jìn rù láo fáng , zài nà lǐ qiú le duō rì 。

Giê-rê-mi bị bỏ trong ngục, trong buồng tối như vậy, và người ở đó lâu ngày.

西:「?」:「!」:「。」

xī dǐ jiā wáng dǎ fā rén tí chū tā lái , zài zì jǐ de gōng nèi sī xià wèn tā shuō :「 cóng yē hé huá yǒu shén me huà lín dào méi yǒu ?」 yē lì mǐ shuō :「 yǒu !」 yòu shuō :「 nǐ bì jiāo zài bā bǐ lún wáng shǒu zhōng 。」

Đoạn, vua Sê-đê-kia sai đem Giê-rê-mi ra, và hỏi kín người tại trong cung mình, rằng: Đức Giê-hô-va có phán lời gì chăng? Giê-rê-mi thưa: Có, đoạn tiếp rằng: Vua sẽ bị nộp trong tay vua Ba-by-lôn.

西:「

yē lì mǐ yòu duì xī dǐ jiā wáng shuō :「 wǒ zài shén me shì shàng dé zuì nǐ , huò nǐ de chén pú , huò zhè bǎi xìng , nǐ jìng jiāng wǒ qiú zài jiān lǐ ne ?

Kế đó, Giê-rê-mi nói cùng vua Sê-đê-kia rằng: Tôi có phạm tội gì nghịch cùng vua, bầy tôi của vua, và dân nầy, mà bỏ tù tôi?

duì nǐ men yù yán bā bǐ lún wáng bì bù lái gōng jī nǐ men hé zhè dì de xiān zhī , xiàn jīn zài nǎ lǐ ne ?

Các tiên tri đã nói tiên tri rằng: Vua Ba-by-lôn sẽ không đến đánh các ngươi, đánh đất nầy, thì nay ở đâu?

使。」

zhǔ — wǒ de wáng a , qiú nǐ xiàn zài chuí tīng , zhǔn wǒ zài nǐ miàn qián de kěn qiú : bú yào shǐ wǒ huí dào wén shì yuē ná dān de fáng wū zhōng , miǎn de wǒ sǐ zài nà lǐ 。」

Bây giờ, Hỡi vua, chúa tôi, xin hãy nghe, mong rằng lời cầu xin của tôi được vua nhận lấy! Xin chớ giao tôi lại trong nhà thơ ký Giô-na-than, kẻo tôi sẽ chết tại đó.

西

yú shì , xī dǐ jiā wáng xià lìng , tā men jiù bǎ yē lì mǐ jiāo zài hù wèi bīng de yuàn zhōng , měi tiān cóng bǐng pù jiē qǔ yí gè bǐng gěi tā , zhí dào chéng zhōng de bǐng yòng jìn le 。 zhè yàng , yē lì mǐ réng zài hù wèi bīng de yuàn zhōng 。

Vua Sê-đê-kia bèn truyền giữ Giê-rê-mi trong nơi hành lang lính canh, mỗi ngày phát cho một chiếc bánh của phố hàng bánh, cho đến chừng bánh trong thành hết trơn. Giê-rê-mi ở trong hành lang lính canh là như vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.