中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 36

đã biết 0/271

西

yóu dà wáng yuē xī yà de ér zi yuē yǎ jìng dì sì nián , yē hé huá de huà lín dào yē lì mǐ shuō :

Năm thứ tư của Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, lời của Đức Giê-hô-va được phán cho Giê-rê-mi rằng:

西

「 nǐ qǔ yì shū juàn , jiāng wǒ duì nǐ shuō gōng jī yǐ sè liè hé yóu dà , bìng gè guó de yí qiè huà , cóng wǒ duì nǐ shuō huà de nà rì , jiù shì cóng yuē xī yà de rì zi qǐ zhí dào jīn rì , dōu xiě zài qí shàng 。

Hãy lấy một cuốn sách, chép vào đó mọi lời ta đã phán cùng ngươi nghịch cùng Y-sơ-ra-ên, Giu-đa, và các dân ngoại, từ ngày ta khởi phán cùng ngươi, từ đời Giô-si-a, cho đến ngày nay.

。」

huò zhě yóu dà jiā tīng jiàn wǒ xiǎng yào jiàng yǔ tā men de yí qiè zāi huò , gè rén jiù huí tóu , lí kāi è dào , wǒ hǎo shè miǎn tā men de zuì niè hé zuì è 。」

Khi người Giu-đa sẽ biết mọi tai vạ ta định giáng cho chúng nó, có lẽ ai nấy đều trở lại khỏi đường xấu mình, hầu cho ta có thể tha sự gian ác và tội lỗi chúng nó.

suǒ yǐ , yē lì mǐ zhào le ní lì yà de ér zi bā lù lái ; bā lù jiù cóng yē lì mǐ kǒu zhōng , jiāng yē hé huá duì yē lì mǐ suǒ shuō de yí qiè huà xiě zài shū juàn shàng 。

Giê-rê-mi gọi Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, đến, Ba-rúc nhờ miệng Giê-rê-mi đọc cho, thì chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va phán cho người vào cuốn sách.

:「殿

yē lì mǐ fēn fù bā lù shuō :「 wǒ bèi jū guǎn , bù néng jìn yē hé huá de diàn 。

Đoạn, Giê-rê-mi dạy Ba-rúc rằng: Ta bị giam cấm, không thể vào nhà Đức Giê-hô-va;

殿

suǒ yǐ nǐ yào qù chèn jìn shí de rì zǐ , zài yē hé huá diàn zhōng jiàng yē hé huá de huà , jiù shì nǐ cóng wǒ kǒu zhōng suǒ xiě zài shū juàn shàng de huà , niàn gěi bǎi xìng hé yí qiè cóng yóu dài chéng yì chū lái de rén tīng 。

nên đến ngày kiêng ăn, chính ngươi hãy đi vào nhà Đức Giê-hô-va, khá đọc cho dân sự nghe lời Đức Giê-hô-va trong sách mà ngươi đã cứ miệng ta chép ra. Ngươi cũng khá đọc cho cả dân Giu-đa đến từ các thành mình đều nghe nữa.

忿。」

huò zhě tā men zài yē hé huá miàn qián kěn qiú gè rén huí tóu , lí kāi è dào , yīn wèi yē hé huá xiàng zhè bǎi xìng suǒ shuō yào fā de nù qì hé fèn nù shì dà de 。」

Có lẽ họ sẽ cầu xin Đức Giê-hô-va và xây lại khỏi đường ác mình; vì cơn giận và thạnh nộ mà Đức Giê-hô-va đã rao nghịch cùng dân nầy là lớn lắm.

殿

ní lì yà de ér zi bā lù jiù zhào xiān zhī yē lì mǐ yí qiè suǒ fēn fù de qù xíng , zài yē hé huá de diàn zhōng cóng shū shàng niàn yē hé huá de huà 。

Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, theo mọi sự tiên tri Giê-rê-mi đã dạy đọc lời Đức Giê-hô-va trong sách, tại nhà Đức Giê-hô-va.

西

yóu dà wáng yuē xī yà de ér zǐ yuē yǎ jìng dì wǔ nián jiǔ yuè , yē lù sā lěng de zhòng mín hé nà cóng yóu dà chéng yì lái dào yē lù sā lěng de zhòng mín , zài yē hé huá miàn qián xuān gào jìn shí de rì zi ,

Xảy ra tháng chín, năm thứ năm về đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem và cả dân sự từ các thành Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem, rao sự kiêng ăn trước mặt Đức Giê-hô-va.

殿殿

bā lù jiù zài yē hé huá diàn de shàng yuàn , yē hé huá diàn de xīn mén kǒu , shā fān de ér zǐ wén shì jī mǎ lì yǎ de wū nèi , niàn shū shàng yē lì mǐ de huà gěi zhòng mín tīng 。

Ba-rúc bèn đọc cho cả dân sự nghe mọi lời của Giê-rê-mi trong sách, tại nhà Đức Giê-hô-va, trong phòng Ghê-ma-ria, con trai Sa-phan làm thơ ký, nơi hành lang trên, lối vào cửa mới nhà Đức Giê-hô-va.

shā fān de sūn zi 、 jī mǎ lì yǎ de ér zi mǐ gāi yà tīng jiàn shū shàng yē hé huá de yí qiè huà ,

Khi Mi-chê, con trai Ghê-ma-ria, cháu Sa-phan, đã nghe đọc mọi lời của Đức Giê-hô-va trong sách,

西

tā jiù xià dào wáng gōng , jìn rù wén shì de wū zi 。 zhòng shǒu lǐng , jiù shì wén shì yǐ lì shā mǎ 、 shì mǎ yǎ de ér zi dì lái yǎ 、 yà gé bō de ér zi yǐ lì ná dān 、 shā fān de ér zi jī mǎ lì yǎ 、 hā ná ní yǎ de ér zi xī dǐ jiā , hé qí yú de shǒu lǐng dōu zuò zài nà lǐ 。

bèn xuống cung vua, trong phòng thơ ký; và, nầy, hết thảy các quan trưởng đều ngồi đó: tức Ê-li-sa-ma thơ ký, Đê-la-gia con trai Sê-ma-gia, Eân-na-than con trai Aïc-bồ, Ghê-ma-ria con trai Sa-phan, Sê-đê-kia con trai Ha-na-nia, và hết thảy các quan trưởng.

yú shì mǐ gāi yà duì tā men shù shuō tā suǒ tīng jiàn de yí qiè huà , jiù shì bā lù xiàng bǎi xìng niàn nà shū de shí hòu suǒ tīng jiàn de 。

Mi-chê thuật cho họ mòi lời mình đã nghe, khi Ba-rúc đọc sách vào tai dân sự.

:「。」

zhòng shǒu lǐng jiù dǎ fā gǔ shì de zēng sūn 、 shì lì mǐ yǎ de sūn zi 、 ní tàn yǎ de ér zi yóu dǐ dào bā lù nà lǐ , duì tā shuō :「 nǐ jiāng suǒ niàn gěi bǎi xìng tīng de shū juàn ná zài shǒu zhōng dào wǒ men zhè lǐ lái 。」 ní lì yà de ér zi bā lù jiù shǒu ná shū juàn lái dào tā men nà lǐ 。

Cho nên các quan trưởng bèn sai Giê-hu-đi, con trai Nê-tha-nia cháu Sê-lê-mia, chắt Cu-si, đến cùng Ba-rúc, mà rằng: Hãy cầm trong tay cuốn sách mà ngươi đã đọc cho dân sự nghe, và đến đây. Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, cầm cuốn sách trong tay mình, và đến cùng họ.

:「。」

tā men duì tā shuō :「 qǐng nǐ zuò xià , niàn gěi wǒ men tīng 。」 bā lù jiù niàn gěi tā men tīng 。

Họ bảo người rằng: Hãy ngồi và đọc đi cho chúng ta nghe. Ba-rúc đọc sách cho họ.

:「。」

tā men tīng jiàn zhè yí qiè huà jiù hài pà , miàn miàn xiāng guān , duì bā lù shuō :「 wǒ men bì xū jiāng zhè yí qiè huà gào sù wáng 。」

Nhưng, khi họ nghe hết mọi lời, thì sợ mà ngó nhau, và nói cùng Ba-rúc rằng: Chúng ta chắc sẽ đem mọi lời đó tâu cùng vua.

:「?」

tā men wèn bā lù shuō :「 qǐng nǐ gào sù wǒ men , nǐ zěn yàng cóng tā kǒu zhōng xiě zhè yí qiè huà ne ?」

Đoạn, họ gạn hỏi Ba-rúc rằng: Hãy cho chúng ta biết thể nào ngươi đã chép mọi lời nầy bởi miệng người.

:「。」

bā lù huí dá shuō :「 tā yòng kǒu xiàng wǒ shuō zhè yí qiè huà , wǒ jiù yòng bǐ mò xiě zài shū shàng 。」

Ba-rúc đáp rằng: Người lấy miệng thuật cho tôi những lời nầy, và tôi dùng mực chép vào cuốn sách.

:「。」

zhòng shǒu lǐng duì bā lù shuō :「 nǐ hé yē lì mǐ yào qù cáng qǐ lái , bù kě jiào rén zhī dào nǐ men zài nǎ lǐ 。」

Các quan trưởng bèn nói cùng Ba-rúc rằng: Đi đi, ngươi với Giê-rê-mi hãy lánh mình, đừng cho ai biết các ngươi ở đâu.

zhòng shǒu lǐng jìn yuàn jiàn wáng , què xiān bǎ shū juàn cún zài wén shì yǐ lì shā mǎ de wū nèi , yǐ hòu jiāng zhè yí qiè huà shuō gěi wáng tīng 。

Rồi các quan trưởng cất cuống sách trong phòng thơ ký Ê-li-sa-ma, vào đến cùng vua trong hành lang, và thật hết mọi lời cho vua nghe.

便

wáng jiù dǎ fā yóu dǐ qù ná zhè shū juàn lái , tā biàn cóng wén shì yǐ lì shā mǎ de wū nèi qǔ lái , niàn gěi wáng hé wáng zuǒ yòu shì lì de zhòng shǒu lǐng tīng 。

Vua sai Giê-hu-đi lấy cuốn sách; Giê-hu-đi lấy cuốn sách trong phòng thơ ký Ê-li-sa-ma, và đem đọc cho vua và hết thảy các quan trưởng đứng chầu bên vua đều nghe.

nà shí zhèng shì jiǔ yuè , wáng zuò zài guò dōng de fáng wū lǐ , wáng de qián miàn huǒ pén zhōng yǒu shāo zhe de huǒ 。

Bấy giờ là tháng chín; vua đang ngồi trong cung mùa đông, có lò than đỏ trước mặt vua.

yóu dǐ niàn le sān sì piān , wáng jiù yòng wén shì de dāo jiāng shū juàn gē pò , rēng zài huǒ pén zhōng , zhí dào quán juàn zài huǒ zhōng shāo jìn le 。

Xảy ra, Giê-hu-đi vừa đọc được ba bốn hàng trong sách, vua lấy dao nhỏ cắt đi và ném vào lửa trong lò, cho đến sách cháy hết trong lửa nơi lò.

wáng hé tīng jiàn zhè yí qiè huà de chén pú dōu bú jù pà , yě bù sī liè yī fu 。

Vua cùng các bầy tôi đã nghe mọi lời đó, không sợ gì cả, không xé áo mình.

yǐ lì ná dān hé dì lái yǎ , bìng jī mǎ lì yǎ kěn qiú wáng bú yào shāo zhè shū juàn , tā què bù tīng 。

Vả lại, Eân-na-than, Đê-la-gia và Ghê-ma-ria có cầu xin vua đừng đốt cuốn sách, mà vua chẳng khứng nghe.

西

wáng jiù fēn fù hā mǐ lè de ér zi yē lā miè hé yà sī liè de ér zi xī lái yǎ , bìng yà bó dié de ér zi shì lì mǐ yǎ , qù zhuō ná wén shì bā lù hé xiān zhī yē lì mǐ 。 yē hé huá què jiāng tā men yǐn cáng 。

Vua truyền cho Giê-rác-mê-ên, con trai Ham-mê-léc cho Sê-ra-gia, con trai Aùch-ri-ên, và cho Sê-lê-mia, con trai Aùp-đê-ên, đi bắt thơ ký Ba-rúc và tiên tri Giê-rê-mi; nhưng Đức Giê-hô-va giấu hai người.

wáng shāo le shū juàn ( qí shàng yǒu bā lù cóng yē lì mǐ kǒu zhōng suǒ xiě de huà ) yǐ hòu , yē hé huá de huà lín dào yē lì mǐ shuō :

Sau khi vua đốt cuốn sách có những lời mà Ba-rúc đã cứ miệng Giê-rê-mi chép ra, có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi như vầy:

「 nǐ zài qǔ yí juàn , jiāng yóu dà wáng yuē yǎ jìng suǒ shāo dì yī juàn shàng de yí qiè huà xiě zài qí shàng 。

Hãy lấy một cuốn khác, và chép vào đó mọi lời đã chép trong cuốn trước mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, đã đốt đi.

:『使?』

lùn dào yóu dà wáng yuē yǎ jìng nǐ yào shuō , yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ shāo le shū juàn , shuō :『 nǐ wèi shén me zài qí shàng xiě zhe , shuō bā bǐ lún wáng bì yào lái huǐ miè zhè dì , shǐ zhè dì shàng jué le rén mín shēng chù ne ?』

Còn về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, thì ngươi khá nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi đã đốt cuốn nầy và nói rằng: Sao ngươi có chép rằng vua Ba-by-lôn chắc sẽ đến, phá đất nầy, và diệt loài người và loài vật?

suǒ yǐ yē hé huá lùn dào yóu dà wáng yuē yǎ jìng shuō : tā hòu yì zhōng bì méi yǒu rén zuò zài dà wèi de bǎo zuò shàng ; tā de shī shǒu bì bèi pāo qì , bái rì shòu yán rè , hēi yè shòu hán shuāng 。

Vì cớ đó, nầy là lời Đức Giê-hô-va phán về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa: Chẳng có ai thuộc về nó sẽ ngồi trên ngai Đa-vít; thây nó sẽ bị giang nắng ban ngày, và giang sương muối ban đêm.

使。」

wǒ bì yīn tā hé tā hòu yì , bìng tā chén pú de zuì niè xíng fá tā men 。 wǒ yào shǐ wǒ suǒ shuō de yí qiè zāi huò lín dào tā men hé yē lù sā lěng de jū mín , bìng yóu dà rén ; zhǐ shì tā men bù tīng 。」

Ta sẽ phạt nó, phạt con cháu và bầy tôi nó, vì gian ác chúng nó. Ta sẽ giáng trên chúng nó, trên dân cư Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa, mọi tai nạn ta đã rao cho chúng nó mà chúng nó không nghe.

仿

yú shì , yē lì mǐ yòu qǔ yì shū juàn jiāo gěi ní lì yà de ér zi wén shì bā lù , tā jiù cóng yē lì mǐ de kǒu zhōng xiě le yóu dà wáng yuē yǎ jìng suǒ shāo qián juàn shàng de yí qiè huà , lìng wài yòu tiān le xǔ duō xiàng fǎng de huà 。

Giê-rê-mi bèn lấy một cuốn khác đưa cho thơ ký Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia; Ba-rúc cứ miệng Giê-rê-mi mà chép lại mọi lời trong cuốn mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, đã đốt đi trong lửa. Có nhiều lời giống nhau đã thêm vào đó.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.