中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 38

đã biết 0/267

mǎ tǎn de ér zǐ shì fǎ tí yǎ 、 bā shī hù ěr de ér zi jī dà lì 、 shì lì mǐ yǎ de ér zi yóu jiǎ 、 mǎ jī yǎ de ér zi bā shī hù ěr tīng jiàn yē lì mǐ duì zhòng rén suǒ shuō de huà , shuō :

Sê-pha-tia, con trai Ma-than, Ghê-đa-lia, con trai Pha-su-rơ, Giu-can, con trai Sê-lê-mia, và Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia, cùng nghe những lời Giê-rê-mi giảng trước mặt cả dân chúng, rằng:

「 yē hé huá rú cǐ shuō : zhù zài zhè chéng lǐ de bì zāo dāo jiàn 、 jī huāng 、 wēn yì ér sǐ ; dàn chū qù guī xiáng jiā lè dǐ rén de bì dé cún huó , jiù shì yǐ zì jǐ mìng wèi lüè wù de , bì dé cún huó 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ai ở lại trong thành thì sẽ bị chết bởi gươm dao, đói kém, hoặc ôn dịch; nhưng kẻ nào ra đầu hàng người Canh-đê thì sẽ được sống, được sự sống của nó như được của cướp, thì nó sẽ sống.

。」

yē hé huá rú cǐ shuō : zhè chéng bì yào jiāo zài bā bǐ lún wáng jūn duì de shǒu zhōng , tā bì gōng qǔ zhè chéng 。」

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Thành nầy chắc sẽ bị phó vào tay đạo binh vua Ba-by-lôn, nó sẽ chiếm lấy.

:「使。」

yú shì shǒu lǐng duì wáng shuō :「 qiú nǐ jiāng zhè rén zhì sǐ ; yīn tā xiàng chéng lǐ shèng xià de bīng dīng hé zhòng mín shuō zhè yàng de huà , shǐ tā men de shǒu fā ruǎn 。 zhè rén bú shì qiú zhè bǎi xìng dé píng ān , nǎi shì jiào tā men shòu zāi huò 。」

Các quan trưởng tâu cùng vua rằng: Xin hãy sai giết người nầy, vì nó nói những lời dường ấy, làm cho tay của lính chiến ở lại trong thành và của cả dân sự ra yếu đuối; vì người nầy không tìm sự cứu thoát cho dân, nhưng tìm sự hư hại.

西:「。」

xī dǐ jiā wáng shuō :「 tā zài nǐ men shǒu zhōng , wú lùn hé shì , wáng yě bù néng yǔ nǐ men fǎn duì 。」

Vua Sê-đê-kia đáp rằng: Nầy, nó đây, nó ở trong tay các ngươi, vì vua không nghịch cùng các ngươi được.

tā men jiù ná zhù yē lì mǐ , xià zài hā mǐ lè de ér zi mǎ jī yǎ de láo yù lǐ ; nà láo yù zài hù wèi bīng de yuàn zhōng 。 tā men yòng shéng zi jiāng yē lì mǐ xì xià qù 。 láo yù lǐ méi yǒu shuǐ , zhǐ yǒu yū ní , yē lì mǐ jiù xiàn zài yū ní zhōng 。

Họ bèn bắt Giê-rê-mi và quăng người xuống hố của Manh-ki-gia, con trai vua, hố ấy ở trong hành lang lính canh; họ dùng dây mà thả Giê-rê-mi xuống. Hố không có nước, chỉ có bùn; Giê-rê-mi bị lút dưới bùn.

·便),

zài wáng gōng de tài jian gǔ shí rén yǐ bó · mǐ lè , tīng jiàn tā men jiāng yē lì mǐ xià le láo yù ( nà shí wáng zuò zài biàn yǎ mǐn mén kǒu ),

Ê-bết-Mê-lết, người Ê-thi-ô-bi, làm hoạn quan trong cung vua, nghe người ta quănăng Giê-rê-mi xuống hố. Vả, bấy giờ vua đang ngồi tại cửa Bên-gia-min.

·

yǐ bó · mǐ lè jiù cóng wáng gōng lǐ chū lái , duì wáng shuō :

Ê-bết-Mê-lết từ trong cung vua đi ra và tâu cùng vua rằng:

饿。」

「 zhǔ — wǒ de wáng a , zhè xiē rén xiàng xiān zhī yē lì mǐ yí wèi dì xíng è , jiāng tā xià zài láo yù zhōng ; tā zài nà lǐ bì yīn jī è ér sǐ , yīn wèi chéng zhōng zài méi yǒu liáng shí 。」

Muôn tâu chúa tôi, những người nầy đãi tiên tri Giê-rê-mi cách như vậy, vả lại quăng người xuống hố là ác lắm. Người sẽ chết đói tại đó, vì trong thành không còn có bánh nữa.

·:「。」

wáng jiù fēn fù gǔ shí rén yǐ bó · mǐ lè shuō :「 nǐ cóng zhè lǐ dài lǐng sān shí rén , chèn zhe xiān zhī yē lì mǐ wèi sǐ yǐ qián , jiāng tā cóng láo yù zhōng tí shàng lái 。」

Vua bèn truyền cho Ê-bết-Mê-lết, người Ê-thi-ô-bi, rằng: Hãy từ đây đem ba mươi người đi trục tiên tri Giê-rê-mi lên khỏi hố, trước khi người chưa chết.

·

yú shì yǐ bó · mǐ lè dài lǐng zhè xiē rén tóng qù , jìn rù wáng gōng , dào kù fáng yǐ xià , cóng nà lǐ qǔ le xiē suì bù hé pò làn de yī fu , yòng shéng zi zhuì xià láo yù qù dào yē lì mǐ nà lǐ 。

Ê-bết-Mê-lết đem những người đó theo mình và đi vào cung vua, đến một chỗ ở dưới kho. Tại đó người lấy dẻ và áo cũ, dùng dây dòng xuống dưới hố cho Giê-rê-mi.

·:「。」

gǔ shí rén yǐ bó · mǐ lè duì yē lì mǐ shuō :「 nǐ yòng zhè xiē suì bù hé pò làn de yī fu fàng zài shéng zi shàng , diàn nǐ de gē zhī wō 。」 yē lì mǐ jiù zhào yàng xíng le 。

Ê-bết-Mê-lết, người Ê-thi-ô-bi, nói cùng Giê-rê-mi rằng: Hãy để dẻ và áo cũ ấy trên dây, lót dưới nách ông. Giê-rê-mi làm như vậy.

zhè yàng , tā men yòng shéng zǐ jiāng yē lì mǐ cóng láo yù lǐ lā shàng lái 。 yē lì mǐ réng zài hù wèi bīng de yuàn zhōng 。

Họ bèn dùng dây kéo Giê-rê-mi lên khỏi hố; rồi Giê-rê-mi ở trong hành lang lính canh.

西殿:「。」

xī dǐ jiā wáng dǎ fā rén dài lǐng xiān zhī yē lì mǐ , jìn yē hé huá diàn zhōng dì sān mén lǐ jiàn wáng 。 wáng jiù duì yē lì mǐ shuō :「 wǒ yào wèn nǐ yí jiàn shì , nǐ sī háo bù kě xiàng wǒ yǐn mán 。」

Vua Sê-đê-kia sai tìm tiên tri Giê-rê-mi và đem người riêng ra tại nơi cửa thứ ba của nhà Đức Giê-hô-va. Vua nói cùng Giê-rê-mi rằng: Ta có một điều hỏi ngươi, chớ giấu ta gì hết!

西:「。」

yē lì mǐ duì xī dǐ jiā shuō :「 wǒ ruò gào sù nǐ , nǐ qǐ bú dìng yào shā wǒ ma ? wǒ ruò quàn jiè nǐ , nǐ bì bù tīng cóng wǒ 。」

Giê-rê-mi bèn tâu vua Sê-đê-kia rằng: Nếu tôi tỏ cho vua điều ấy, vua há chẳng giết tôi sao? còn nếu tôi khuyên vua, chắc vua chẳng nghe tôi.

西:「。」

xī dǐ jiā wáng jiù sī xià xiàng yē lì mǐ shuō :「 wǒ zhǐ zhe nà zào wǒ men shēng mìng zhī yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì : wǒ bì bù shā nǐ , yě bù jiāng nǐ jiāo zài xún suǒ nǐ mìng de rén shǒu zhōng 。」

Vua Sê-đê-kia thề cách kín cùng Giê-rê-mi rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã làm nên linh hồn nầy cho chúng ta, ta sẽ không giết ngươi, và không phó ngươi trong tay những người đòi mạng sống ngươi.

西:「

yē lì mǐ duì xī dǐ jiā shuō :「 yē hé huá — wàn jūn zhī shén 、 yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : nǐ ruò chū qù guī xiáng bā bǐ lún wáng de shǒu lǐng , nǐ de mìng jiù bì cún huó , zhè chéng yě bú zhì bèi huǒ fén shāo , nǐ hé nǐ de quán jiā dōu bì cún huó 。

Giê-rê-mi bèn tâu cùng Sê-đê-kia rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Nếu ngươi ra hàng đầu các quan trưởng của vua Ba-by-lôn, thì ngươi sẽ được sống, và thành nầy sẽ không bị đốt bằng lửa; ngươi sẽ sống với cả nhà mình.

。」

nǐ ruò bù chū qù guī xiáng bā bǐ lún wáng de shǒu lǐng , zhè chéng bì jiāo zài jiā lè dǐ rén shǒu zhōng 。 tā men bì yòng huǒ fén shāo , nǐ yě bù dé tuō lí tā men de shǒu 。」

Nhưng nếu ngươi không ra hàng đầu các quan trưởng của vua Ba-by-lôn, thì thành nầy sẽ phó trong tay người Canh-đê, họ sẽ dùng lửa đốt đi, và ngươi sẽ không thoát khỏi tay họ.

西:「。」

xī dǐ jiā wáng duì yē lì mǐ shuō :「 wǒ pà nà xiē tóu xiáng jiā lè dǐ rén de yóu dà rén , kǒng pà jiā lè dǐ rén jiāng wǒ jiāo zài tā men shǒu zhōng , tā men xì nòng wǒ 。」

Vua Sê-đê-kia nói cùng Giê-rê-mi rằng: Ta e người Giu-đa đã hàng đầu người Canh-đê, sẽ phó ta vào tay chúng nó, và ta mắc phải chúng nó chê cười chăng.

:「

yē lì mǐ shuō :「 jiā lè dǐ rén bì bù jiāng nǐ jiāo chū 。 qiú nǐ tīng cóng wǒ duì nǐ suǒ shuō yē hé huá de huà , zhè yàng nǐ bì dé hǎo chù , nǐ de mìng yě bì cún huó 。

Giê-rê-mi thưa rằng: Người ta sẽ không phó vua đâu. Xin vua hãy vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va trong điều tôi nói, thì vua sẽ được ích và được sống.

nǐ ruò bù kěn chū qù , yē hé huá zhǐ shì wǒ de huà nǎi shì zhè yàng :

Nhưng nếu vua không khứng đi ra, thì nầy là lời Đức Giê-hô-va có tỏ cho tôi:

退

yóu dà wáng gōng lǐ suǒ shèng de fù nǚ bì dōu dài dào bā bǐ lún wáng de shǒu lǐng nà lǐ 。 zhè xiē fù nǚ bì shuō : nǐ zhī jǐ de péng yǒu cuī bī nǐ , shèng guò nǐ ; jiàn nǐ de jiǎo xiàn rù yū ní zhōng , jiù zhuǎn shēn tuì hòu le 。

Nầy, hết thảy đàn bà còn lại trong cung vua Giu-đa sẽ bị dắt đến cùng các quan trưởng của vua Ba-by-lôn; những đàn bà ấy sẽ nói cùng vua rằng: Những bạn thân của vua đã dỗ dành vua và được thắng; đoạn, chân vua đã nhúng trong bùn, thì chúng nó trở lui đi.

使。」

「 rén bì jiāng nǐ de hòu fēi hé nǐ de ér nǚ dài dào jiā lè dǐ rén nà lǐ ; nǐ yě bù dé tuō lí tā men de shǒu , bì bèi bā bǐ lún wáng de shǒu zhuō zhù ; nǐ yě bì shǐ zhè chéng bèi huǒ fén shāo 。」

Hết thảy cung phi hoàng tử vua sẽ bị điệu đến nơi người Canh-đê; còn vua, sẽ không thoát khỏi tay chúng nó, nhưng sẽ bị tay vua Ba-by-lôn bắt lấy, và vua sẽ làm cho thành nầy bị đốt bằng lửa.

西:「使

xī dǐ jiā duì yē lì mǐ shuō :「 bú yào shǐ rén zhī dào zhè xiē huà , nǐ jiù bú zhì yú sǐ 。

Bấy giờ Sê-đê-kia nói cùng Giê-rê-mi rằng: Chớ cho ai biết mọi lời nầy, thì ngươi sẽ không chết.

:『。』

shǒu lǐng ruò tīng jiàn le wǒ yǔ nǐ shuō huà , jiù lái jiàn nǐ , wèn nǐ shuō :『 nǐ duì wáng shuō shén me huà bú yào xiàng wǒ men yǐn mán , wǒ men jiù bù shā nǐ 。 wáng xiàng nǐ shuō shén me huà yě yào gào sù wǒ men 。』

Nếu các quan trưởng nghe ta đã nói cùng ngươi, đến cùng ngươi mà nói rằng: Hãy thuật lại cho chúng ta những điều ngươi nói cùng vua và vua nói cùng ngươi; chớ giấu chúng ta, thì chúng ta không giết ngươi,

:『。』」

nǐ jiù duì tā men shuō :『 wǒ zài wáng miàn qián kěn qiú bú yào jiào wǒ huí dào yuē ná dān de fáng wū sǐ zài nà lǐ 。』」

ngươi khá trả lời rằng: Tôi đã cầu xin vua đừng khiến tôi về trong nhà Giô-na-than, kẻo tôi chết ở đó.

suí hòu zhòng shǒu lǐng lái jiàn yē lì mǐ , wèn tā , tā jiù zhào wáng suǒ fēn fù de yí qiè huà huí dá tā men 。 tā men bú zài yǔ tā shuō huà , yīn wèi shì qíng méi yǒu xiè lòu 。

Các quan trưởng đến tìm Giê-rê-mi và gạn hỏi. Người dùng những lời vua đã truyền mà đáp lại cùng các quan. Họ bèn thôi nói với người vì không ai biết việc đó.

yú shì yē lì mǐ réng zài hù wèi bīng de yuàn zhōng , zhí dào yē lù sā lěng bèi gōng qǔ de rì zi 。

Giê-rê-mi ở nơi hành lang lính canh như vậy, cho đến ngày Giê-ru-sa-lem bị lấy. Khi thành bị lấy, người vẫn còn ở đó.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.