中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 39

đã biết 0/211

西

yóu dà wáng xī dǐ jiā dì jiǔ nián shí yuè , bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā shuài lǐng quán jūn lái wéi kùn yē lù sā lěng 。

Năm thứ chín về đời Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến với cả đạo binh mình, vây thành Giê-ru-sa-lem.

西

xī dǐ jiā shí yī nián sì yuè chū jiǔ rì , chéng bèi gōng pò 。

Năm thứ mười một về đời Sê-đê-kia, tháng tư, ngày mồng chín, thành bị vỡ.

··西·

yē lù sā lěng bèi gōng qǔ de shí hòu , bā bǐ lún wáng de shǒu lǐng ní jiǎ · shā lì xuē 、 sān jiǎ · ní bō 、 sā xī jīn — lā sā lì 、 ní jiǎ · shā lì xuē — lā mò , bìng bā bǐ lún wáng qí yú de yí qiè shǒu lǐng dōu lái zuò zài zhōng mén 。

Hết thảy các quan trưởng của vua Ba-by-lôn vào thành và ngồi cửa giữa. Aáy là Nẹt-gan-Sa-rết-sê, Sam-ga-Nê-bô, Sa-sê-kim, làm đầu hoạn quan, Nẹt-gan-Sa-rết-sê, làm đầu các bác sĩ, cùng các quan trưởng khác của vua Ba-by-lôn.

西

yóu dà wáng xī dǐ jiā hé yí qiè bīng dīng kàn jiàn tā men , jiù zài yè jiān cóng kào jìn wáng yuán liǎng chéng zhōng jiān de mén chū chéng táo pǎo , wǎng yà lā bā táo qù 。

Sê-đê-kia, vua Giu-đa cùng cả lính chiến vừa ngó thấy các người ấy, liền trốn ra khỏi thành trong ban đêm, theo con đường vườn vua, do cửa giữa hai bức vách, đi thẳng đến A-ra-ba.

西

jiā lè dǐ de jūn duì zhuī gǎn tā men , zài yē lì gē de píng yuán zhuī shàng xī dǐ jiā , jiāng tā ná zhù , dài dào hā mǎ dì de lì bǐ lā 、 bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā nà lǐ ; ní bù jiǎ ní sā jiù shěn pàn tā 。

Nhưng đạo binh của người Canh-đê đuổi theo, và đuổi kịp Sê-đê-kia trong đồng Giê-ri-cô; thì bắt và đem về cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Tại đó, vua bị Nê-bu-cát-nết-sa đoán xét.

西

bā bǐ lún wáng zài lì bǐ lā 、 xī dǐ jiā yǎn qián shā le tā de zhòng zǐ , yòu shā le yóu dà de yí qiè guì zhòu ,

Vua Ba-by-lôn giết các con trai Sê-đê-kia trước mặt vua ấy tại Ríp-la; vua Ba-by-lôn cũng giết các kẻ cả nước Giu-đa nữa.

西

bìng qiě wān xī dǐ jiā de yǎn jīng , yòng tóng liàn suǒ zhe tā , yào dài dào bā bǐ lún qù 。

Đoạn, khiến móc mắt vua Sê-đê-kia, dùng xiềng mà xiềng lại, để điệu về Ba-by-lôn.

jiā lè dǐ rén yòng huǒ fén shāo wáng gōng hé bǎi xìng de fáng wū , yòu chāi huǐ yē lù sā lěng de chéng qiáng 。

Người Canh-đê dùng lửa đốt cung vua và nhà cửa của dân sự, phá tường thành Giê-ru-sa-lem.

nà shí , hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jiāng chéng lǐ suǒ shèng xià de bǎi xìng hé tóu xiáng tā de táo mín , yǐ jí qí yú de mín dōu lǔ dào bā bǐ lún qù le 。

Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, bắt những người dân còn sót lại trong thành, và những kẻ hàng đầu, cùng dân sót lại trong đất, đem về làm phu tù bên nước Ba-by-lôn.

hù wèi cháng ní bù sā lā dàn què jiāng mín zhōng háo wú suǒ yǒu de qióng rén liú zài yóu dà dì , dāng shí gěi tā men pú táo yuán hé tián dì 。

Còn như những kẻ nghèo khó, không có sản nghiệp chi hết, thì Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, để chúng nó lại trong đất Giu-đa; cùng một lúc ấy, người cấp cho chúng nó những vườn nho và ruộng.

bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā tí dào yē lì mǐ , zhǔ fù hù wèi cháng ní bù sā lā dàn shuō :

Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, truyền lịnh cho Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, về việc Giê-rê-mi rằng:

。」

「 nǐ lǐng tā qù , hǎo hǎo dì kàn dài tā , qiè bù kě hài tā ; tā duì nǐ zěn me shuō , nǐ jiù xiàng tā zěn me xíng 。」

Hãy đem người đi, săn sóc người, và đừng làm hại; nhưng phải đãi người theo ý muốn riêng của người.

·

hù wèi cháng ní bù sā lā dàn hé ní bù shā sī bān — lā sā lì 、 ní jiǎ · shā lì xuē — lā mò , bìng bā bǐ lún wáng de yí qiè guān zhǎng ,

Nê-bu-xa-A-đan, làm đầu thị vệ, Nê-bu-sa-ban, làm đầu hoạn quan, Nẹt-gan-Sa-rết-sê, làm đầu bác sĩ, và hết thảy các quan tướng của vua Ba-by-lôn,

dǎ fā rén qù , jiāng yē lì mǐ cóng hù wèi bīng yuàn zhōng tí chū lái , jiāo yǔ shā fān de sūn zǐ yà xī gān de ér zi jī dà lì , dài huí jiā qù 。 yú shì yē lì mǐ zhù zài mín zhōng 。

sai tìm Giê-rê-mi trong hành lang lính canh, rồi trao người cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, đặng đưa người về trong nhà. Người bèn ở giữa dân sự.

yē lì mǐ hái qiú zài hù wèi bīng yuàn zhōng de shí hòu , yē hé huá de huà lín dào tā shuō :

Khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng người như vầy:

·

「 nǐ qù gào sù gǔ shí rén yǐ bó · mǐ lè shuō , wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : wǒ shuō jiàng huò bú jiàng fú de huà bì lín dào zhè chéng , dào nà shí bì zài nǐ miàn qián chéng jiù le 。

Ngươi khá đi và bảo Ê-bết-Mê-lết, người Ê-thi-ô-bi, rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, đến ngày đó ta sẽ làm ra trước mặt ngươi mọi lời mà ta đã phán nghịch cùng thành nầy, cho nó mang họa và chẳng được phước.

yē hé huá shuō : dào nà rì wǒ bì zhěng jiù nǐ , nǐ bì bú zhì jiāo zài nǐ suǒ pà de rén shǒu zhōng 。

Đức Giê-hô-va phán: Nhưng trong ngày đó, ta sẽ giải cứu ngươi, thì ngươi sẽ không bị nộp trong tay những người mình sợ.

。」

wǒ dìng yào dā jiù nǐ , nǐ bú zhì dǎo zài dāo xià , què yào yǐ zì jǐ de mìng wèi lüè wù , yīn nǐ yǐ kào wǒ 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Vì ta sẽ cứu ngươi chắc thật, ngươi sẽ không ngã dưới lưỡi gươm; ngươi sẽ lấy được sự sống mình như của cướp, vì đã để lòng trông cậy trong ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.