中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 52

đã biết 0/312

西

xī dǐ jiā dēng jī de shí hòu nián èr shí yī suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng shí yī nián 。 tā mǔ qīn míng jiào hā mù tā , shì lì ná rén yē lì mǐ de nǚ ér 。

Khi Sê-đê-kia lên làm vua, có hai mươi mốt tuổi; trị vì mười một năm tại thành Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, người Líp-na.

西

xī dǐ jiā xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi è de shì , shì zhào yuē yǎ jìng yí qiè suǒ xíng de 。

Vua ấy làm điều dữ trước mắt Đức Giê-hô-va, như mọi việc vua Giê-hô-gia-kim đã làm.

yīn cǐ yē hé huá de nù qì zài yē lù sā lěng hé yóu dà fā zuò , yǐ zhì jiāng rén mín cóng zì jǐ de miàn qián gǎn chū 。

Vì cớ Đức Giê-hô-va nổi giận, thì điều đó xảy ra trong Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, cho đến Ngài ném bỏ chúng nó khỏi trước mặt mình. Sê-đê-kia dấy loạn nghịch cùng vua Ba-by-lôn.

西

xī dǐ jiā bèi pàn bā bǐ lún wáng 。 tā zuò wáng dì jiǔ nián shí yuè chū shí rì , bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā shuài lǐng quán jūn lái gōng jī yē lù sā lěng , duì chéng ān yíng , sì wéi zhù lěi gōng chéng 。

Ngày mồng mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Sê-đê-kia, thì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả đạo binh mình đi đánh Giê-ru-sa-lem, đóng trại nghịch cùng nó, và chúng nó lập đồn vây lấy.

西

yú shì chéng bèi wéi kùn zhí dào xī dǐ jiā wáng shí yī nián 。

Thành bị vây mãi đến năm thứ mười một đời vua Sê-đê-kia.

sì yuè chū jiǔ rì , chéng lǐ yǒu dà jī huāng , shèn zhì bǎi xìng dōu méi yǒu liáng shí 。

Ngày mồng chín tháng tư, trong thành bị đói kém lắm, đến nỗi dân của đất nầy không có bánh nữa.

chéng bèi gōng pò , yí qiè bīng dīng jiù zài yè jiān cóng kào jìn wáng yuán liǎng chéng zhōng jiān de mén , chū chéng táo pǎo ; jiā lè dǐ rén zhèng zài sì wéi gōng chéng 。 tā men jiù wǎng yà lā bā táo qù 。

Vách thành bị phá vỡ, hết thảy những lính chiến bèn trốn ra khỏi thành lúc ban đêm, và do cửa ở giữa hai cái vách, gần vườn vua, mà đi ra; trong khi người Canh-đê đang vây thành, thì chúng nó chạy trốn hướng về A-ra-ba.

西

jiā lè dǐ de jūn duì zhuī gǎn xī dǐ jiā wáng , zài yē lì gē de píng yuán zhuī shàng tā 。 tā de quán jūn dōu lí kāi tā sì sàn le 。

Nhưng đạo binh của người Canh-đê đuổi theo vua; khi đã đuổi kịp Sê-đê-kia tại đồng bằng Giê-ri-cô, thì quân vua chạy tan và bỏ vua lại.

便

jiā lè dǐ rén jiù ná zhù wáng , dài tā dào zài hā mǎ dì lì bǐ lā de bā bǐ lún wáng nà lǐ ; bā bǐ lún wáng biàn shěn pàn tā 。

Người Canh-đê bắt vua và dẫn đến cùng vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát, nơi đó vua bị vua Ba-by-lôn xử đoán.

西

bā bǐ lún wáng zài xī dǐ jiā yǎn qián shā le tā de zhòng zǐ , yòu zài lì bǐ lā shā le yóu dà de yí qiè shǒu lǐng ,

Vua Ba-by-lôn khiến giết các con trai của Sê-đê-kia trước mắt người, cũng khiến giết mọi quan trưởng Giu-đa tại Ríp-la.

西

bìng qiě wān le xī dǐ jiā de yǎn jīng , yòng tóng liàn suǒ zhe tā , dài dào bā bǐ lún qù , jiāng tā qiú zài jiān lǐ , zhí dào tā sǐ de rì zi 。

Đoạn sai móc mắt Sê-đê-kia, lấy xiềng xiềng lại. Vua Ba-by-lôn đem Sê-đê-kia về Ba-by-lôn, khiến giam trong ngục cho đến ngày người chết.

bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā shí jiǔ nián wǔ yuè chū shí rì , zài bā bǐ lún wáng miàn qián shì lì de hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jìn rù yē lù sā lěng ,

Ngày mồng mười tháng năm, năm thứ mười chín về đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, thì Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, hầu vua Ba-by-lôn, vào thành Giê-ru-sa-lem.

殿

yòng huǒ fén shāo yē hé huá de diàn hé wáng gōng , yòu fén shāo yē lù sā lěng de fáng wū , jiù shì gè dà hù jiā de fáng wū 。

Người sai đốt nhà Đức Giê-hô-va, cung vua, và hết thảy nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem. Mọi nhà lớn cũng đều phó cho lửa.

gēn cóng hù wèi cháng jiā lè dǐ de quán jūn jiù chāi huǐ yē lù sā lěng sì wéi de chéng qiáng 。

Rồi cả đạo binh của người Canh-đê thuộc quyền quan đầu thị vệ, phá hết thảy các vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.

nà shí hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jiāng mín zhōng zuì qióng de hé chéng lǐ suǒ shèng xià de bǎi xìng , bìng yǐ jīng tóu xiáng bā bǐ lún wáng de rén , yǐ jí dà zhòng suǒ shèng xià de rén , dōu lǔ qù le 。

Những kẻ rất nghèo trong dân, với những kẻ sống sót đang ở trong thành, những kẻ đã hàng đầu vua Ba-by-lôn, và từ trong đám đông sót lại, thì Nê-bu-xa-A-đan, qua đầu thị vệ, bắt đem đi làm phu tù hết thảy.

使

dàn hù wèi cháng ní bù sā lā dàn liú xià xiē mín zhōng zuì qióng de , shǐ tā men xiū lǐ pú táo yuán , gēng zhòng tián dì 。

Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, chỉ để những người rất nghèo khó lại trong đất, đặng trồng vườn nho và làm ruộng.

殿殿

yē hé huá diàn de tóng zhù bìng diàn nèi de pén zuò hé tóng hǎi , jiā lè dǐ rén dōu dǎ suì le , jiāng nà tóng yùn dào bā bǐ lún qù le ,

Quân Canh-đê phá tan các cột đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, cả đến đế tảng và biển đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, rồi đem những đồng đó về Ba-by-lôn.

yòu dài qù guō 、 chǎn zǐ 、 là jiǎn 、 pán zi 、 tiáo gēng , bìng suǒ yòng de yí qiè tóng qì 、

Những nồi, vá, kéo, chậu thìa, cùng hết thảy khí mạnh bằng đồng về việc thờ phượng, chúng nó cũng đều đem đi nữa.

bēi 、 huǒ dǐng 、 wǎn 、 pén 、 dēng tái 、 tiáo gēng 、 jué , wú lùn jīn de yín de , hù wèi cháng yě dōu dài qù le 。

Quan đầu thị vệ, lại khuân đi cả những chén, lư hương, chậu, nồi, chân đèn, thìa, và bát, phàm những đồ gì làm bằng vàng thì lấy vàng, đồ gì làm bằng bạc thì lấy bạc.

殿

suǒ luó mén wèi yē hé huá diàn suǒ zào de liǎng gēn tóng zhù 、 yí gè tóng hǎi , bìng zuò xià de shí èr zhī tóng niú , zhè yí qiè de tóng duō dé wú fǎ kě chēng 。

Còn như hai cột đồng, biển đồng, và mười hai con bò đồng dùng làm đế nó, mà vua Sa-lô-môn đã chế tạo cho nhà Đức Giê-hô-va, đồng của những đồ ấy, thì không thể cân được.

zhè yì gēn zhù zi gāo shí bā zhǒu , hòu sì zhǐ , shì kōng de , wéi shí èr zhǒu 。

Mỗi cột cao mười tám thước, yêu vi mười hai thước; trong tầm phổng, dầy bằng bốn ngón tay.

zhù shàng yǒu tóng dǐng , gāo wǔ zhǒu ; tóng dǐng de zhōu wéi yǒu wǎng zǐ hé shí liú , dōu shì tóng de 。 nà yì gēn zhù zi zhào cǐ yí yàng , yě yǒu shí liú 。

Trên đầu cột có chóp đồng, cao năm thước, chung quanh chóp có lưới và trái lựu, đều bằng đồng cả. Cột kia giống như cột nầy, cũng có lưới và trái lựu.

zhù zǐ sì miàn yǒu jiǔ shí liù gè shí liú , zài wǎng zǐ zhōu wéi , gòng yǒu yì bǎi shí liú 。

Bốn bề có chín mươi sáu trái lựu, và hết thảy những trái lựu đặt xung quanh lưới cọng là một trăm.

西西

hù wèi cháng ná zhù dà jì sī xī lái yǎ 、 fù jì sī xī fān yà , hé sān gè bǎ mén de ,

Quan đầu thị vệ bắt Sê-ra-gia, thầy tế lễ cả, và Sô-phô-ni, thầy tế lễ phó, cùng ba người giữ cửa đền.

yòu cóng chéng zhōng ná zhù yí gè guǎn lǐ bīng dīng de guān , bìng zài chéng lǐ suǒ yù cháng jiàn wáng miàn de qī gè rén hé jiǎn diǎn guó mín jūn zhǎng de shū jì , yǐ jí chéng lǐ suǒ yù jiàn de guó mín liù shí gè rén 。

Cũng bắt tại trong thành một hoạn quan coi lính chiến, bảy người cận thần của vua ở trong thành, một viên thơ ký của quan chánh lãnh binh, coi việc mộ dân trong đất, cùng sáu mươi người dân đất đó gặp tại trong thành.

hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jiāng zhè xiē rén dài dào lì bǐ lā de bā bǐ lún wáng nà lǐ 。

Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, đem hết thảy những tù ấy về cho vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la.

bā bǐ lún wáng jiù bǎ tā men jī shā zài hā mǎ dì de lì bǐ lā 。 zhè yàng , yóu dà rén bèi lǔ qù lí kāi běn dì 。

Vua Ba-by-lôn sai đánh và giết họ tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Aáy vậy người Giu-đa bị điệu đi làm phu tù khỏi đất mình.

ní bù jiǎ ní sā suǒ lǔ de mín shù jì zài xià miàn : zài tā dì qī nián lǔ qù yóu dà rén sān qiān líng èr shí sān míng ;

Nầy là dân mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem đi làm phu tù; năm thứ bảy, ba ngàn hai mươi ba người Giu-đa.

ní bù jiǎ ní sā shí bā nián cóng yē lù sā lěng lǔ qù bā bǎi sān shí èr rén ;

Năm thứ mười tạm đời Nê-bu-cát-nết-sa, từ thành Giê-ru-sa-lem bắt đi tám trăm ba mươi hai người.

ní bù jiǎ ní sā èr shí sān nián , hù wèi cháng ní bù sā lā dàn lǔ qù yóu dà rén qī bǎi sì shí wǔ míng ; gòng yǒu sì qiān liù bǎi rén 。

Năm thứ hai mươi ba đời vua ấy, Nê-bu-xa-A-đan, quan đầu thị vệ, đem đi bảy trăm bốn mươi lăm người Giu-đa. Hết thảy là bốn ngàn sáu trăm người.

·使

yóu dà wáng yuē yǎ jīn bèi lǔ hòu sān shí qī nián , bā bǐ lún wáng yǐ wèi · mǐ luó dá yuán nián shí èr yuè èr shí wǔ rì , shǐ yóu dà wáng yuē yǎ jīn tái tóu , tí tā chū jiān ,

Năm thứ ba mươi bảy, sau khi vua Giu-đa là Giê-hô-gia-kin bị bắt, tức là năm đầu vua Ba-by-lôn là Ê-vinh-Mê-rô-đác mới lên ngôi, ngày hai mươi lăm tháng mười hai, vua nầy trả lại chức vua cho Giê-hô-gia-kin vua Giu-đa, và đem ra khỏi ngục;

使

yòu duì tā shuō ēn yán , shǐ tā de wèi gāo guò yǔ tā yì tóng zài bā bǐ lún zhòng wáng de wèi ,

lấy lời lành nói với, và lập ngôi người cao hơn ngôi các vua cùng ở với mình tại Ba-by-lôn.

gěi tā tuō le qiú fú 。 tā zhōng shēn zài bā bǐ lún wáng miàn qián chī fàn 。

Lại sai đổi áo tù, Giê-hô-gia-kin được ngồi bàn với vua trọn đời mình.

bā bǐ lún wáng cì tā suǒ xū yòng de shí wù , rì rì cì tā yì fēn , zhōng shēn shì zhè yàng , zhí dào tā sǐ de rì zi 。

Giê-hô-gia-kin còn sống bao lâu, thì vua Ba-by-lôn ban đồ cần dùng hằng ngày cho mãi, trọn đời người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.