中文圣经

GIÓP 31

đã biết 0/294

wǒ yǔ yǎn jīng lì yuē , zěn néng liàn liàn zhān wàng chǔ nǚ ne ?

Tôi đã có lập ước với mắt tôi; Vậy, làm sao tôi còn dám nhìn người nữ đồng trinh?

cóng zhì shàng de shén suǒ dé zhī fēn , cóng zhì gāo quán néng zhě suǒ dé zhī yè shì shén me ne ?

Vì phần do Đức Chúa Trời ở trên trời, Và cơ nghiệp do Đấng Toàn năng ở nơi cao, là gì?

qǐ bú shì huò huàn lín dào bú yì de , zāi hài lín dào zuò niè de ne ?

Há chẳng phải sự tai họa cho kẻ gian ác, Và sự hư hại cho kẻ làm dữ sao?

shén qǐ bú shì chá kàn wǒ de dào lù , shù diǎn wǒ de jiǎo bù ne ?

Chớ thì Đức Chúa Trời chẳng thấy đường lối tôi, Và đếm các bước tôi sao?

; (

wǒ ruò yǔ xū huǎng tóng háng , jiǎo ruò zhuī suí guǐ zhà ; (

Nếu tôi có ăn ở cách dối trá, Và chân tôi vội vàng theo chước gian giảo,

使 ;)

wǒ ruò bèi gōng dào de tiān píng chēng dù , shǐ shén kě yǐ zhī dào wǒ de chún zhèng ;)

Nguyện Đức Chúa Trời cân tôi trên cân thăng bằng, Thì Ngài sẽ nhìn biết sự thanh liêm của tôi.

wǒ de jiǎo bù ruò piān lí zhèng lù , wǒ de xīn ruò suí zhe wǒ de yǎn mù , ruò yǒu diàn wū nián zài wǒ shǒu shàng ;

Nếu chân tôi trở bước bỏ đường chánh đáng, Và lòng tôi đi theo con mắt tôi, Nếu có sự ô uế chi dính vào tay tôi,

jiù yuàn wǒ suǒ zhǒng de yǒu bié rén chī , wǒ tián suǒ chǎn de bèi bá chū lái 。

Nguyện tôi gieo, và có kẻ khác gặt hái, Nguyện thổ sản tôi bị nhổ đi!

wǒ ruò shòu mí huò , xiàng fù rén qǐ yín niàn , zài lín shè de mén wài dūn fú ,

Nếu lòng tôi bị người nữ quyến dụ, Nếu tôi rình rập ở nơi cửa của lân cận tôi,

jiù yuàn wǒ de qī zǐ gěi bié rén tuī mò , bié rén yě yǔ tā tóng shì 。

Nguyện vợ tôi xây cối cho người khác, Và có kẻ khác nằm cùng nàng.

yīn wèi zhè shì dà zuì , shì shěn pàn guān dāng fá de zuì niè 。

Vì điều ấy vốn tội trọng gớm ghê, Một tội ác đáng bị quan xét đoán phạt:

zhè běn shì huǒ fén shāo , zhí dào huǐ miè , bì bá chú wǒ suǒ yǒu de jiā chǎn 。

Tội ấy là một ngọn lửa thiêu hóa cho đến chốn trầm luân, Tàn hại các của cải tôi đến tận cùng.

wǒ de pú bì yǔ wǒ zhēng biàn de shí hòu , wǒ ruò miǎo shì bù tīng tā men de qíng jié ;

Nếu tôi có khinh duyên cớ của tôi trai tớ gái tôi, Lúc chúng nó tranh luận với tôi,

shén xīng qǐ , wǒ zěn yàng xíng ne ? tā chá wèn , wǒ zěn yàng huí dá ne ?

Thì tôi sẽ làm sao khi Đức Chúa Trời chổi dậy? Khi Ngài đến thẩm sát tôi, tôi sẽ đáp sao?

zào wǒ zài fù zhōng de , bù yě shì zào tā ma ? jiāng tā yǔ wǒ tuán zài fù zhōng de qǐ bú shì yí wèi ma ?

Đấng đã tạo thành tôi trong lòng mẹ tôi, Há chẳng có dựng nên chúng nó sao? Há chẳng phải cũng một Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta trong lòng mẹ sao?

wǒ ruò bù róng pín hán rén dé qí suǒ yuàn , huò jiào guǎ fù yǎn zhōng shī wàng ,

Nếu tôi từ chối điều kẻ nghèo khổ ước ao, Gây cho mắt người góa bụa bị hao mòn,

; (

huò dú zì chī wǒ yì diǎn shí wù , gū ér méi yǒu yǔ wǒ tóng chī ; (

Nếu tôi có ăn bánh tôi một mình, Và kẻ mồ côi chẳng có được ăn với;

。)

cóng yòu nián shí gū ér yǔ wǒ tóng cháng , hǎo xiàng fù zǐ yí yàng ; wǒ cóng chū mǔ fù jiù fú zhù guǎ fù 。)

Thật từ lúc tôi còn trẻ, nó cùng lớn lên với tôi như con với cha; Còn người góa bụa, tôi đã nâng đỡ từ khi tôi lọt lòng mẹ tôi;

wǒ ruò jiàn rén yīn wú yī sǐ wáng , huò jiàn qióng fá rén shēn wú zhē gài ;

Nếu tôi có thấy người nào thác vì không quần áo, Và kẻ nghèo thiếu chẳng có mềm;

使

wǒ ruò bù shǐ tā yīn wǒ yáng de máo dé nuǎn , wèi wǒ zhù fú ;

Nếu lòng người không chúc phước cho tôi, Và người không nhờ lông chiên tôi mà được ấm áp;

wǒ ruò zài chéng mén kǒu jiàn yǒu bāng zhù wǒ de , jǔ shǒu gōng jī gū ér ;

Nếu tôi có giơ tay hiếp kẻ mồ côi, Bởi vì tôi thấy có kẻ phù trợ tôi trong cửa thành;

qíng yuàn wǒ de jiān tóu cóng quē pén gǔ tuō luò , wǒ de bǎng bì cóng yáng shǐ gǔ zhé duàn 。

Nguyện cho vai tôi rớt ra khỏi nơi khác, Và cánh tay tôi bị gẫy rứt ra đi!

使

yīn shén jiàng de zāi huò shǐ wǒ kǒng jù ; yīn tā de wēi yán , wǒ bù néng wàng wéi 。

Vì sự tai họa từ Đức Chúa Trời giáng xuống làm tôi kinh khiếp, Và trước mặt sự oai nghiêm Ngài, Tôi nào làm chi được.

wǒ ruò yǐ huáng jīn wèi zhǐ wàng , duì jīng jīn shuō : nǐ shì wǒ de yǐ kào ;

Nếu tôi có để lòng tin cậy nơi vàng, Và nói với vàng ròng rằng: Ngươi là sự nương nhờ của ta;

wǒ ruò yīn cái wù fēng yù , yīn wǒ shǒu duō dé zī cái ér huān xǐ ;

Nếu tôi vui mừng về tài vật tôi nhiều, Và vì tay tôi đã được lắm của;

wǒ ruò jiàn tài yáng fā guāng , míng yuè xíng zài kōng zhōng ,

Nếu tôi có thấy mặt trời chiếu sáng, Và mặt trăng mọc lên soi tỏ,

便

xīn jiù àn àn bèi yǐn yòu , kǒu biàn qīn shǒu ;

Nếu lòng tôi có thầm mê hoặc, Và miệng tôi hôn gởi tay tôi;

zhè yě shì shěn pàn guān dāng fá de zuì niè , yòu shì wǒ bèi qì zài shàng de shén 。

Điều đó cũng là một tội ác đáng bị quan xét phạt; Vì nếu làm vậy, tôi đã từ chối Đức Chúa Trời trên cao kia.

便; (

wǒ ruò jiàn hèn wǒ de zāo bào jiù huān xǐ , jiàn tā zāo zāi biàn gāo xìng ; (

Nếu tôi có vui mừng vì cớ tàn hại kẻ ghét tôi, Và hứng lòng khi tai vạ giáng cho nó;

;)

wǒ méi yǒu róng kǒu fàn zuì , zhòu zǔ tā de shēng mìng ;)

Trái lại tôi không cho phép miệng tôi phạm tội, Mà lấy sự rủa sả trù ẻo, nguyện hại mạng sống nó;

? (

ruò wǒ zhàng péng de rén wèi cháng shuō , shuí bù yǐ zhǔ rén de shí wù chī bǎo ne ? (

Nếu các người nhà tôi chẳng có nói: “Ai sẽ tìm được người nào không được ăn no nê thịt súc vật người?”

宿;)

cóng lái wǒ méi yǒu róng kè lǚ zài jiē shàng zhù sù , què kāi mén yíng jiē xíng lù de rén ;)

Người lạ không có ngủ đêm ở ngoài đường; Tôi mở cửa cho kẻ hành khách;

怀

wǒ ruò xiàng yà dāng zhē yǎn wǒ de guò fàn , jiāng zuì niè cáng zài huái zhōng ;

Nếu tôi có che tội mình như A-đam, Mà giấu sự gian ác mình ở trong lòng,

使

yīn jù pà dà zhòng , yòu yīn zōng zú miǎo shì wǒ shǐ wǒ jīng kǒng , yǐ zhì bì kǒu wú yán , dù mén bù chū ;

Tại vì tôi kinh hãi chúng đông, Và e sợ bị họ hàng khinh bỉ, Đến đổi ở yên lặng, chẳng dám bước ra khỏi cửa.

! (!)

wéi yuàn yǒu yí wèi kěn tīng wǒ ! ( kàn nǎ , zài zhè lǐ yǒu wǒ suǒ huà de yā , yuàn quán néng zhě huí dá wǒ !)

Oâi! Chớ chi có một người nghe tôi! Nầy là dấu hiệu tôi ký, Nguyện Đấng Toàn năng đáp lời tôi; Nguyện kẻ cừu nghịch tôi làm một trạng từ!

yuàn nà dí wǒ zhě suǒ xiě de zhuàng cí zài wǒ zhè lǐ ! wǒ bì dài zài jiān shàng , yòu bǎng zài tóu shàng wèi guān miǎn 。

Tôi quả hẳn sẽ mang trạng từ ấy trên vai mình, Đội nó trên đầu tôi như một mão triều thiên.

wǒ bì xiàng tā shù shuō wǒ jiǎo bù de shù mù , bì rú jūn wáng jìn dào tā miàn qián 。

Aét tôi sẽ thuật cho cừu địch biết số bước tôi, Đến trước mặt nó như một vua chúa.

wǒ ruò duó qǔ tián dì , zhè dì xiàng wǒ hǎn yuān , lí gōu yì tóng kū qì ;

Nếu đất tôi kêu cáo tôi, Các giòng cày nó khóc với nhau;

wǒ ruò chī dì de chū chǎn bù gěi jià zhí , huò jiào yuán zhǔ sàng mìng ;

Nếu tôi ăn sản vật nó mà không trả giá bạc, Làm khuấy khuất nguyên chủ nó cho đến phải chết mất;

yuàn zhè dì cháng jí lí dài tì mài zi , cháng è cǎo dài tì dà mài 。 yuē bó de huà shuō wán le 。

Nguyện gai góc mọc thay lúa miến, Và cỏ lùng thế cho lúa mạch! Đến đây hết lời của Gióp.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.