中文圣经

GIÓP 30

đã biết 0/256

dàn rú jīn , bǐ wǒ nián shào de rén xì xiào wǒ ; qí rén zhī fù wǒ céng miǎo shì , bù kěn ān zài kān shǒu wǒ yáng qún de gǒu zhōng 。

Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi.

tā men zhuàng nián de qì lì jì yǐ shuāi bài , qí shǒu zhī lì yǔ wǒ hé yì ne ?

Sức mạnh của họ đã hư bại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi?

饿

tā men yīn qióng fá jī è , shēn tǐ kū shòu , zài huāng fèi qī liáng de yōu àn zhōng kěn gān zào zhī dì ,

Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ.

zài cǎo cóng zhī zhōng cǎi xián cǎo , luó téng de gēn wèi tā men de shí wù 。

Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ.

tā men cóng rén zhōng bèi gǎn chū ; rén zhuī hǎn tā men rú zéi yì bān ,

Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm.

yǐ zhì tā men zhù zài huāng gǔ zhī jiān , zài dì dòng hé yán xué zhōng ;

Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá.

zài cǎo cóng zhōng jiào huàn , zài jīng jí xià jù jí 。

Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai.

zhè dōu shì yú wán xià jiàn rén de ér nǚ ; tā men bèi biān dǎ , gǎn chū jìng wài 。

Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ.

xiàn zài zhè xiē rén yǐ wǒ wèi gē qǔ , yǐ wǒ wèi xiào tán 。

Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ.

tā men yàn wù wǒ , duǒ zài páng biān zhàn zhe , bú zhù dì tǔ tuò mò zài wǒ liǎn shàng 。

Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi.

sōng kāi tā men de shéng suǒ kǔ dài wǒ , zài wǒ miàn qián tuō qù pèi tóu 。

Bởi vì Đức Chúa Trời đã làm dùn dây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi.

zhè děng xià liú rén zài wǒ yòu biān qǐ lái , tuī kāi wǒ de jiǎo , zhù chéng zhàn lù lái gōng jī wǒ 。

Cái nố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chân tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng.

zhè xiē wú rén bāng zhù de , huǐ huài wǒ de dào , jiā zēng wǒ de zāi 。

Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng.

tā men lái rú tóng chuǎng jìn dà pò kǒu , zài huǐ huài zhī jiān gǔn zài wǒ shēn shàng 。

Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn.

jīng kǒng lín dào wǒ , qū zhú wǒ de zūn róng rú fēng ; wǒ de fú lù rú yún guò qù 。

Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Đuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây.

xiàn zài wǒ xīn jí qí bēi shāng ; kùn kǔ de rì zi jiāng wǒ zhuā zhù 。

Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi,

yè jiān , wǒ lǐ miàn de gǔ tou cì wǒ , téng tòng bù zhǐ , hǎo xiàng kěn wǒ 。

Đêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Đau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào.

yīn shén de dà lì , wǒ de wài yī wū huì bù kān , yòu rú lǐ yī de lǐng zǐ jiāng wǒ chán zhù 。

Vì cớ năng lực lớn của Đức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khít tôi lại như cổ áo tôi.

shén bǎ wǒ rēng zài yū ní zhōng , wǒ jiù xiàng chén tǔ hé lú huī yì bān 。

Đức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro.

zhǔ a , wǒ hū qiú nǐ , nǐ bú yīng yǔn wǒ ; wǒ zhàn qǐ lái , nǐ jiù dìng jīng kàn wǒ 。

Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi.

nǐ xiàng wǒ biàn xīn , dài wǒ cán rěn , yòu yòng dà néng zhuī bī wǒ ,

Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi.

使使

bǎ wǒ tí zài fēng zhōng , shǐ wǒ jià fēng ér xíng , yòu shǐ wǒ xiāo miè zài liè fēng zhōng 。

Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão.

使

wǒ zhī dào yào shǐ wǒ lín dào sǐ dì , dào nà wèi zhòng shēng suǒ dìng de yīn zhái 。

Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống.

rán ér , rén pú dǎo qǐ bù shēn shǒu ? yù zāi nàn qǐ bù qiú jiù ne ?

Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đang cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư?

rén zāo nán , wǒ qǐ bú wèi tā kū qì ne ? rén qióng fá , wǒ qǐ bú wèi tā yōu chóu ne ?

Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao?

便

wǒ yǎng wàng dé hǎo chù , zāi huò jiù dào le ; wǒ děng dài guāng míng , hēi àn biàn lái le 。

Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho.

wǒ xīn lǐ fán rǎo bù ān , kùn kǔ de rì zi lín dào wǒ shēn 。

Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi.

wǒ méi yǒu rì guāng jiù āi kū xíng qù ; wǒ zài huì zhōng zhàn zhe qiú jiù 。

Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu.

wǒ yǔ yě gǒu wèi dì xiong , yǔ tuó niǎo wèi tóng bàn 。

Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu.

wǒ de pí fū hēi ér tuō luò ; wǒ de gǔ tou yīn rè shāo jiāo 。

Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi.

suǒ yǐ , wǒ de qín yīn biàn wèi bēi yīn ; wǒ de xiāo shēng biàn wèi kū shēng 。

Vì cớ ấy, tiếng đàn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đàn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.