中文圣经

GIĂNG 11

đã biết 0/327

yǒu yí gè huàn bìng de rén , míng jiào lā sā lù , zhù zài bó dà ní , jiù shì mǎ lì yà hé tā zǐ zǐ mǎ dà de cūn zhuāng 。

Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.

zhè mǎ lì yà jiù shì nà yòng xiāng gāo mǒ zhǔ , yòu yòng tóu fa cā tā jiǎo de ; huàn bìng de lā sā lù shì tā de xiōng dì 。

Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.

:「。」

tā zǐ mèi liǎng gè jiù dǎ fā rén qù jiàn yē sū , shuō :「 zhǔ a , nǐ suǒ ài de rén bìng le 。」

Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.

:「 耀 耀。」

yē sū tīng jiàn , jiù shuō :「 zhè bìng bú zhì yú sǐ , nǎi shì wèi shén de róng yào , jiào shén de ér zi yīn cǐ dé róng yào 。」

Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.

yē sū sù lái ài mǎ dà hé tā mèi zǐ bìng lā sā lù 。

Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, và La-xa-rơ.

tīng jiàn lā sā lù bìng le , jiù zài suǒ jū zhī dì réng zhù le liǎng tiān 。

Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đang ở.

:「。」

rán hòu duì mén tú shuō :「 wǒ men zài wǎng yóu tài qù ba 。」

Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.

:「?」

mén tú shuō :「 lā bǐ , yóu tài rén jìn lái yào ná shí tou dǎ nǐ , nǐ hái wǎng nà lǐ qù ma ?」

Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao!

:「

yē sū huí dá shuō :「 bái rì bú shì yǒu shí èr xiǎo shí ma ? rén zài bái rì zǒu lù , jiù bú zhì diē dǎo , yīn wèi kàn jiàn zhè shì shàng de guāng 。

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, vì thấy sự sáng của thế gian nầy.

。」

ruò zài hēi yè zǒu lù , jiù bì diē dǎo , yīn wèi tā méi yǒu guāng 。」

Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng.

:「。」

yē sū shuō le zhè huà , suí hòu duì tā men shuō :「 wǒ men de péng yǒu lā sā lù shuì le , wǒ qù jiào xǐng tā 。」

Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.

:「。」

mén tú shuō :「 zhǔ a , tā ruò shuì le , jiù bì hǎo le 。」

Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành.

yē sū zhè huà shì zhǐ zhe tā sǐ shuō de , tā men què yǐ wéi shì shuō zhào cháng shuì le 。

Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.

:「

yē sū jiù míng míng dì gào sù tā men shuō :「 lā sā lù sǐ le 。

Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.

。」

wǒ méi yǒu zài nà lǐ jiù huān xǐ , zhè shì wèi nǐ men de yuán gù , hǎo jiào nǐ men xiāng xìn 。 rú jīn wǒ men kě yǐ wǎng tā nà lǐ qù ba 。」

Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người.

:「。」

duō mǎ , yòu chēng wéi dī tǔ mǎ , jiù duì nà tóng zuò mén tú de shuō :「 wǒ men yě qù hé tā tóng sǐ ba 。」

Nhân đó, Thô-ma, gọi là Đi-đim, nói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!

yē sū dào le , jiù zhī dào lā sā lù zài fén mù lǐ yǐ jīng sì tiān le 。

Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi.

bó dà ní lí yē lù sā lěng bù yuǎn , yuē yǒu liù lǐ lù 。

Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ.

yǒu hǎo xiē yóu tài rén lái kàn mǎ dà hé mǎ lì yà , yào wèi tā men de xiōng dì ān wèi tā men 。

Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và Ma-ri về sự anh chết.

mǎ dà tīng jiàn yē sū lái le , jiù chū qù yíng jiē tā ; mǎ lì yà què réng rán zuò zài jiā lǐ 。

Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà.

:「

mǎ dà duì yē sū shuō :「 zhǔ a , nǐ ruò zǎo zài zhè lǐ , wǒ xiōng dì bì bù sǐ 。

Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết;

。」

jiù shì xiàn zài , wǒ yě zhī dào , nǐ wú lùn xiàng shén qiú shén me , shén yě bì cì gěi nǐ 。」

mà bây giờ tôi cụng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho.

:「。」

yē sū shuō :「 nǐ xiōng dì bì rán fù huó 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại.

:「。」

mǎ dà shuō :「 wǒ zhī dào zài mò rì fù huó de shí hòu , tā bì fù huó 。」

Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.

:「

yē sū duì tā shuō :「 fù huó zài wǒ , shēng mìng yě zài wǒ 。 xìn wǒ de rén suī rán sǐ le , yě bì fù huó ;

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.

?」

fán huó zhe xìn wǒ de rén bì yǒng yuǎn bù sǐ 。 nǐ xìn zhè huà ma ?」

Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?

:「 。」

mǎ dà shuō :「 zhǔ a , shì de , wǒ xìn nǐ shì jī dū , shì shén de ér zi , jiù shì nà yào lín dào shì jiè de 。」

Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian.

:「。」

mǎ dà shuō le zhè huà , jiù huí qù àn àn dì jiào tā mèi zǐ mǎ lì yà , shuō :「 fū zǐ lái le , jiào nǐ 。」

Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đang gọi em lại.

mǎ lì yà tīng jiàn le , jiù jí máng qǐ lái , dào yē sū nà lǐ qù 。

Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài.

nà shí , yē sū hái méi yǒu jìn cūn zǐ , réng zài mǎ dà yíng jiē tā de dì fāng 。

Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài.

nà xiē tóng mǎ lì yà zài jiā lǐ ān wèi tā de yóu tài rén , jiàn tā jí máng qǐ lái chū qù , jiù gēn zhe tā , yǐ wéi tā yào wǎng fén mù nà lǐ qù kū 。

Khi những người Giu-đa đang ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội vã như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc.

:「。」

mǎ lì yà dào le yē sū nà lǐ , kàn jiàn tā , jiù fǔ fú zài tā jiǎo qián , shuō :「 zhǔ a , nǐ ruò zǎo zài zhè lǐ , wǒ xiōng dì bì bù sǐ 。」

Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết!

yē sū kàn jiàn tā kū , bìng kàn jiàn yǔ tā tóng lái de yóu tài rén yě kū , jiù xīn lǐ bēi tàn , yòu shèn yōu chóu ,

Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu?

便:「?」:「。」

biàn shuō :「 nǐ men bǎ tā ān fàng zài nǎ lǐ ?」 tā men huí dá shuō :「 qǐng zhǔ lái kàn 。」

Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.

yē sū kū le 。

Đức Chúa Jêsus khóc.

:「。」

yóu tài rén jiù shuō :「 nǐ kàn tā ài zhè rén shì hé děng kěn qiè 。」

Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!

:「?」

qí zhōng yǒu rén shuō :「 tā jì rán kāi le xiā zǐ de yǎn jīng , qǐ bù néng jiào zhè rén bù sǐ ma ?」

Có một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao?

yē sū yòu xīn lǐ bēi tàn , lái dào fén mù qián ; nà fén mù shì gè dòng , yǒu yí kuài shí tou dǎng zhe 。

Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại.

:「。」:「。」

yē sū shuō :「 nǐ men bǎ shí tou nuó kāi 。」 nà sǐ rén de zǐ zǐ mǎ dà duì tā shuō :「 zhǔ a , tā xiàn zài bì shì chòu le , yīn wèi tā sǐ le yǐ jīng sì tiān le 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi.

:「 耀?」

yē sū shuō :「 wǒ bú shì duì nǐ shuō guò , nǐ ruò xìn , jiù bì kàn jiàn shén de róng yào ma ?」

Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?

:「

tā men jiù bǎ shí tou nuó kāi 。 yē sū jǔ mù wàng tiān , shuō :「 fù a , wǒ gǎn xiè nǐ , yīn wèi nǐ yǐ jīng tīng wǒ 。

Vậy, họ lăn hòn đá đi. Đức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi.

。」

wǒ yě zhī dào nǐ cháng tīng wǒ , dàn wǒ shuō zhè huà shì wèi zhōu wéi zhàn zhe de zhòng rén , jiào tā men xìn shì nǐ chà le wǒ lái 。」

Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng đã sai tôi đến.

:「!」

shuō le zhè huà , jiù dà shēng hū jiào shuō :「 lā sā lù chū lái !」

Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!

:「!」

nà sǐ rén jiù chū lái le , shǒu jiǎo guǒ zhe bù , liǎn shàng bāo zhuó shǒu jīn 。 yē sū duì tā men shuō :「 jiě kāi , jiào tā zǒu !」

Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn. Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi.

nà xiē lái kàn mǎ lì yà de yóu tài rén jiàn le yē sū suǒ zuò de shì , jiù duō yǒu xìn tā de ;

Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài.

dàn qí zhōng yě yǒu qù jiàn fǎ lì sài rén de , jiāng yē sū suǒ zuò de shì gào sù tā men 。

Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm.

:「

jì sī zhǎng hé fǎ lì sài rén jù jí gōng huì , shuō :「 zhè rén xíng hǎo xiē shén jì , wǒ men zěn me bàn ne ?

Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?

。」

ruò zhè yàng yóu zhe tā , rén rén dōu yào xìn tā , luó mǎ rén yě yào lái duó wǒ men de dì tǔ hé wǒ men de bǎi xìng 。」

Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa.

:「

nèi zhōng yǒu yí gè rén , míng jiào gāi yà fǎ , běn nián zuò dà jì sī , duì tā men shuō :「 nǐ men bù zhī dào shén me 。

Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đang niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết!

。」

dú bù xiǎng yí gè rén tì bǎi xìng sǐ , miǎn de tōng guó miè wáng , jiù shì nǐ men de yì chù 。」

Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất.

tā zhè huà bú shì chū yú zì jǐ , shì yīn tā běn nián zuò dà jì sī , suǒ yǐ yù yán yē sū jiāng yào tì zhè yì guó sǐ ;

Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đang niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết;

yě bú dàn tì zhè yì guó sǐ , bìng yào jiāng shén sì sàn de zǐ mín dōu jù jí guī yī 。

và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.

cóng nà rì qǐ , tā men jiù shāng yì yào shā yē sū

Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài.

suǒ yǐ , yē sū bú zài xiǎn rán xíng zài yóu tài rén zhōng jiān , jiù lí kāi nà lǐ wǎng kào jìn kuàng yě de dì fāng qù , dào le yí zuò chéng , míng jiào yǐ fǎ lián , jiù zài nà lǐ hé mén tú tóng zhù 。

Cho nên Đức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi là Eùp-ra-im; và ở lại đó với môn đồ.

yóu tài rén de yú yuè jié jìn le , yǒu xǔ duō rén cóng xiāng xià shàng yē lù sā lěng qù , yào zài jié qián jié jìng zì jǐ 。

Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy uế.

殿:「?」

tā men jiù xún zhǎo yē sū , zhàn zài diàn lǐ bǐ cǐ shuō :「 nǐ men de yì sī rú hé , tā bù lái guò jié ma ?」

Vậy, chúng kiếm Đức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?

nà shí , jì sī zhǎng hé fǎ lì sài rén zǎo yǐ fēn fù shuō , ruò yǒu rén zhī dào yē sū zài nǎ lǐ , jiù yào bào míng , hǎo qù ná tā 。

Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lịnh, nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.