中文圣经

GIĂNG 20

đã biết 0/223

qī rì de dì yī rì qīng zǎo , tiān hái hēi de shí hòu , mǒ dà lā de mǎ lì yà lái dào fén mù nà lǐ , kàn jiàn shí tou cóng fén mù nuó kāi le ,

Ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Ma-ri Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi.

西·:「。」

jiù pǎo lái jiàn xī mén · bǐ dé hé yē sū suǒ ài de nà ge mén tú , duì tā men shuō :「 yǒu rén bǎ zhǔ cóng fén mù lǐ nuó le qù , wǒ men bù zhī dào fàng zài nǎ lǐ 。」

Vậy, người chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu.

bǐ dé hé nà mén tú jiù chū lái , wǎng fén mù nà lǐ qù 。

Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ.

liǎng gè rén tóng pǎo , nà mén tú bǐ bǐ dé pǎo dé gèng kuài , xiān dào le fén mù ,

Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và đến mồ trước.

dī tóu wǎng lǐ kàn , jiù jiàn xì má bù hái fàng zài nà lǐ , zhǐ shì méi yǒu jìn qù 。

Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không vào.

西·

xī mén · bǐ dé suí hòu yě dào le , jìn fén mù lǐ qù , jiù kàn jiàn xì má bù hái fàng zài nà lǐ ,

Si-môn Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất,

yòu kàn jiàn yē sū de guǒ tóu jīn méi yǒu hé xì má bù fàng zài yí chù , shì lìng zài yí chù juàn zhe 。

và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác.

。(

xiān dào fén mù de nà mén tú yě jìn qù , kàn jiàn jiù xìn le 。(

Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin.

。)

yīn wèi tā men hái bù míng bái shèng jīng de yì sī , jiù shì yē sū bì yào cóng sǐ lǐ fù huó 。)

Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh Thánh rằng Đức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết sống lại.

yú shì liǎng gè mén tú huí zì jǐ de zhù chù qù le 。

Đoạn, hai môn đồ trở về nhà mình.

mǎ lì yà què zhàn zài fén mù wài miàn kū 。 kū de shí hòu , dī tóu wǎng fén mù lǐ kàn ,

Song Ma-ri đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc. Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ,

使穿

jiù jiàn liǎng gè tiān shǐ , chuān zhe bái yī , zài ān fàng yē sū shēn tǐ de dì fāng zuò zhe , yí gè zài tóu , yí gè zài jiǎo 。

thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Đức Chúa Jêsus đã nằm.

使:「?」:「。」

tiān shǐ duì tā shuō :「 fù rén , nǐ wèi shén me kū ?」 tā shuō :「 yīn wèi yǒu rén bǎ wǒ zhǔ nuó le qù , wǒ bù zhī dào fàng zài nǎ lǐ 。」

Hai thiên sứ hỏi: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu.

shuō le zhè huà , jiù zhuǎn guò shēn lái , kàn jiàn yē sū zhàn zài nà lǐ , què bù zhī dào shì yē sū 。

Vừa nói xong, người xây lại thấy Đức Chúa Jêsus tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Jêsus.

:「?」:「便。」

yē sū wèn tā shuō :「 fù rén , wèi shén me kū ? nǐ zhǎo shuí ne ?」 mǎ lì yà yǐ wéi shì kàn yuán de , jiù duì tā shuō :「 xiān shēng , ruò shì nǐ bǎ tā yí le qù , qǐng gào sù wǒ , nǐ bǎ tā fàng zài nǎ lǐ , wǒ biàn qù qǔ tā 。」

Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai? Người ngỡ rằng đó là kẻ làm vườn, bèn nói rằng: Hỡi chúa, ví thật ngươi là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho ta biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy.

:「。」:「!」(。)

yē sū shuō :「 mǎ lì yà 。」 mǎ lì yà jiù zhuǎn guò lái , yòng xī bó lái huà duì tā shuō :「 lā bō ní !」( lā bō ní jiù shì fū zǐ de yì sī 。)

Đức Chúa Trời phán rằng: Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xây lại, lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng: Ra-bu-ni (nghĩa là thầy)!

:「 。」

yē sū shuō :「 bú yào mō wǒ , yīn wǒ hái méi yǒu shēng shàng qù jiàn wǒ de fù 。 nǐ wǎng wǒ dì xiong nà lǐ qù , gào sù tā men shuō , wǒ yào shēng shàng qù jiàn wǒ de fù , yě shì nǐ men de fù , jiàn wǒ de shén , yě shì nǐ men de shén 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời ta và Đức Chúa Trời các ngươi.

:「。」

mǒ dà lā de mǎ lì yà jiù qù gào sù mén tú shuō :「 wǒ yǐ jīng kàn jiàn le zhǔ 。」 tā yòu jiāng zhǔ duì tā shuō de zhè huà gào sù tā men 。

Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đã thấy Chúa, và Ngài đã phán cùng mình những điều đó.

:「!」

nà rì ( jiù shì qī rì de dì yí rì ) wǎn shàng , mén tú suǒ zài de dì fāng , yīn pà yóu tài rén , mén dōu guān le 。 yē sū lái , zhàn zài dāng zhōng , duì tā men shuō :「 yuàn nǐ men píng ān !」

Buổi chiều nội ngày đó, là ngày thứ nhất trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đang đóng lại, vì sợ dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!

shuō le zhè huà , jiù bǎ shǒu hé lèi páng zhǐ gěi tā men kàn 。 mén tú kàn jiàn zhǔ , jiù xǐ lè le 。

Nói đoạn, Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem. Các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ.

:「。」

yē sū yòu duì tā men shuō :「 yuàn nǐ men píng ān ! fù zěn yàng chāi qiǎn le wǒ , wǒ yě zhào yàng chāi qiǎn nǐ men 。」

Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy.

:「

shuō le zhè huà , jiù xiàng tā men chuī yì kǒu qì , shuō :「 nǐ men shòu shèng líng !

Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.

。」

nǐ men shè miǎn shuí de zuì , shuí de zuì jiù shè miǎn le ; nǐ men liú xià shuí de zuì , shuí de zuì jiù liú xià le 。」

Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.

nà shí èr gè mén tú zhōng , yǒu chēng wèi dī tǔ mǎ de duō mǎ ; yē sū lái de shí hòu , tā méi yǒu hé tā men tóng zài 。

Vả, lúc Đức Chúa Jêsus đến, thì Thô-ma, tức Đi-đim, là một người trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với các môn đồ.

:「。」:「。」

nà xiē mén tú jiù duì tā shuō :「 wǒ men yǐ jīng kàn jiàn zhǔ le 。」 duō mǎ què shuō :「 wǒ fēi kàn jiàn tā shǒu shàng de dīng hén , yòng zhǐ tou tàn rù nà dīng hén , yòu yòng shǒu tàn rù tā de lèi páng , wǒ zǒng bú xìn 。」

Các môn đồ khác nói với người rằng: Chúng ta đã thấy Chúa. Nhưng người trả lời rằng: Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.

:「!」

guò le bā rì , mén tú yòu zài wū lǐ , duō mǎ yě hé tā men tóng zài , mén dōu guān le 。 yē sū lái , zhàn zài dāng zhōng shuō :「 yuàn nǐ men píng ān !」

Cách tám ngày, các môn đồ lại nhóm nhau trong nhà, có Thô-ma ở với. Khi cửa đang đóng, Đức Chúa Jêsus đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!

:「 !」

jiù duì duō mǎ shuō :「 shēn guò nǐ de zhǐ tou lái , mō wǒ de shǒu ; shēn chū nǐ de shǒu lái , tàn rù wǒ de lèi páng 。 bú yào yí huò , zǒng yào xìn !」

Đoạn, Ngài phán cùng Thô-ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin!

:「 !」

duō mǎ shuō :「 wǒ de zhǔ ! wǒ de shén !」

Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!

:「。」

yē sū duì tā shuō :「 nǐ yīn kàn jiàn le wǒ cái xìn ; nà méi yǒu kàn jiàn jiù xìn de yǒu fú le 。」

Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!

yē sū zài mén tú miàn qián lìng wài háng le xǔ duō shén jì , méi yǒu jì zài zhè shū shàng 。

Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy.

dàn jì zhè xiē shì yào jiào nǐ men xìn yē sū shì jī dū , shì shén de ér zi , bìng qiě jiào nǐ men xìn le tā , jiù kě yǐ yīn tā de míng dé shēng mìng 。

Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.