中文圣经

GIĂNG 19

đã biết 0/327

dāng xià bǐ lā duō jiāng yē sū biān dǎ le 。

Bấy giờ, Phi-lát bắt Đức Chúa Jêsus và sai đánh đòn Ngài.

穿

bīng dīng yòng jīng jí biān zuò guān miǎn dài zài tā tóu shàng , gěi tā chuān shàng zǐ páo ,

Bọn lính đương một cái mão triều bằng gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều.

:「!」

yòu āi jìn tā , shuō :「 gōng xǐ , yóu tài rén de wáng a !」 tā men jiù yòng shǒu zhǎng dǎ tā 。

Đoạn, họ đến gần, nói với Ngài rằng: Lạy Vua dân Giu-đa! Họ lại cho Ngài mấy cái vả.

:「。」

bǐ lā duō yòu chū lái duì zhòng rén shuō :「 wǒ dài tā chū lái jiàn nǐ men , jiào nǐ men zhī dào wǒ chá bù chū tā yǒu shén me zuì lái 。」

Phi-lát lại ra một lần nữa, mà nói với chúng rằng: Đây nầy, ta dẫn người ra ngoài, để các ngươi biết rằng ta không tìm thấy người có tội lỗi chi.

穿:「!」

yē sū chū lái , dài zhe jīng jí guān miǎn , chuān zhe zǐ páo 。 bǐ lā duō duì tā men shuō :「 nǐ men kàn zhè ge rén !」

Vậy, Đức Chúa Jêsus đi ra, đầu đội mão triều gai, mình mặc áo điều; và Phi-lát nói cùng chúng rằng: Kìa, xem người nầy!

:「!」:「。」

jì sī zhǎng hé chāi yì kàn jiàn tā , jiù hǎn zhe shuō :「 dīng tā shí zì jià ! dīng tā shí zì jià !」 bǐ lā duō shuō :「 nǐ men zì jǐ bǎ tā dīng shí zì jià ba ! wǒ chá bù chū tā yǒu shén me zuì lái 。」

Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các kẻ sai thấy Ngài, thì kêu lên rằng: Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự! Phi-lát nói cùng chúng rằng: Chính mình các ngươi hãy bắt mà đóng đinh người; bởi vì về phần ta không thấy người có tội lỗi chi hết.

:「 。」

yóu tài rén huí dá shuō :「 wǒ men yǒu lǜ fǎ , àn nà lǜ fǎ , tā shì gāi sǐ de , yīn tā yǐ zì jǐ wèi shén de ér zi 。」

Dân Giu-đa lại nói rằng: Chúng tôi có luật, chiếu luật đó hắn phải chết; vì hắn tự xưng là Con Đức Chúa Trời.

bǐ lā duō tīng jiàn zhè huà , yuè fā hài pà ,

Khi Phi-lát đã nghe lời đó, lại càng thêm sợ hãi nữa.

:「?」

yòu jìn yá mén , duì yē sū shuō :「 nǐ shì nǎ lǐ lái de ?」 yē sū què bù huí dá 。

Người lại trở vào nơi trường án mà nói với Đức Chúa Jêsus rằng: Ngươi từ đâu? Nhưng Đức Chúa Jêsus không đáp gì hết.

:「?」

bǐ lā duō shuō :「 nǐ bú duì wǒ shuō huà ma ? nǐ qǐ bù zhī wǒ yǒu quán bǐng shì fàng nǐ , yě yǒu quán bǐng bǎ nǐ dīng shí zì jià ma ?」

Phi-lát hỏi Ngài rằng: Ngươi chẳng nói chi với ta hết sao? Ngươi há chẳng biết rằng ta có quyền buông tha ngươi và quyền đóng đinh ngươi sao?

:「。」

yē sū huí dá shuō :「 ruò bú shì cóng shàng tóu cì gěi nǐ de , nǐ jiù háo wú quán bǐng bàn wǒ 。 suǒ yǐ , bǎ wǒ jiāo gěi nǐ de nà rén zuì gèng zhòng le 。」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyền gì trên ta; vậy nên, kẻ nộp ta cho ngươi là có tội trọng hơn nữa.

:「。」

cóng cǐ , bǐ lā duō xiǎng yào shì fàng yē sū , wú nài yóu tài rén hǎn zhe shuō :「 nǐ ruò shì fàng zhè ge rén , jiù bú shì kǎi sā de zhōng chén 。 fán yǐ zì jǐ wèi wáng de , jiù shì bèi pàn kǎi sā le 。」

Từ lúc đó, Phi-lát kiếm cách để tha Ngài; nhưng dân Giu-đa kêu lên rằng: Ví bằng quan tha người nầy, thì quan không phải là trung thần của Sê-sa; vì hễ ai tự xưng là vua, ấy là xướng lên nghịch cùng Sê-sa vậy!

」,

bǐ lā duō tīng jiàn zhè huà , jiù dài yē sū chū lái , dào le yí gè dì fāng , míng jiào 「 pù huá shí chù 」, xī bó lái huà jiào è bā dà , jiù zài nà lǐ zuò táng 。

Phi-lát nghe lời đó, bèn dẫn Đức Chúa Jêsus ra ngoài, rồi ngồi trên tòa án, tại nơi gọi là Ba-vê, mà tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ga-ba-tha.

:「!」

nà rì shì yù bèi yú yuè jié de rì zi , yuē yǒu wǔ zhèng 。 bǐ lā duō duì yóu tài rén shuō :「 kàn nǎ , zhè shì nǐ men de wáng !」

Vả, bấy giờ là ngày sắm sửa về lễ Vượt Qua, độ chừng giờ thứ sáu. Phi-lát nói cùng dân Giu-đa rằng: Vua các ngươi kia kìa!

:「!」:「?」:「。」

tā men hǎn zhe shuō :「 chú diào tā ! chú diào tā ! dīng tā zài shí zì jià shàng !」 bǐ lā duō shuō :「 wǒ kě yǐ bǎ nǐ men de wáng dīng shí zì jià ma ?」 jì sī zhǎng huí dá shuō :「 chú le kǎi sā , wǒ men méi yǒu wáng 。」

Những người đó bèn kêu lên rằng: Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi! Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi! Phi-lát nói với chúng rằng: Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi lên thập tự giá hay sao? Các thầy tế lễ cả thưa rằng: Chúng tôi không có vua khác, chỉ Sê-sa mà thôi.

yú shì bǐ lā duō jiāng yē sū jiāo gěi tā men qù dīng shí zì jià 。

Người bèn giao Ngài cho chúng đặng đóng đinh trên thập tự giá. Vậy, chúng bắt Ngài và dẫn đi.

」,

tā men jiù bǎ yē sū dài le qù 。 yē sū bèi zhe zì jǐ de shí zì jià chū lái , dào le yí gè dì fāng , míng jiào 「 dú lóu dì 」, xī bó lái huà jiào gè gè tā 。

Đức Chúa Jêsus vác thập tự giá mình, đi đến ngoài thành, tại nơi gọi là cái Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha.

tā men jiù zài nà lǐ dīng tā zài shí zì jià shàng , hái yǒu liǎng gè rén hé tā yì tóng dīng zhe , yì biān yí gè , yē sū zài zhōng jiān 。

Aáy đó là chỗ họ đóng đinh Ngài, lại có hai người khác với Ngài, mỗi bên một người, còn Đức Chúa Jêsus ở chính giữa.

:「。」

bǐ lā duō yòu yòng pái zi xiě le yí gè míng hào , ān zài shí zì jià shàng , xiě de shì :「 yóu tài rén de wáng , ná sā lè rén yē sū 。」

Phi-lát cũng sai làm một tấm bảng, rồi treo lên trên thập tự giá. Trên bảng đó có đề chữ rằng: JÊSUS NGƯùI NA-XA-RẵT, Là VUA DĂN GIU-ĐA.

yǒu xǔ duō yóu tài rén niàn zhè míng hào ; yīn wèi yē sū bèi dīng shí zì jià de dì fāng yǔ chéng xiāng jìn , bìng qiě shì yòng xī bó lái 、 luó mǎ 、 xī là sān yàng wén zì xiě de 。

Vì nơi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh ở gần thành, và chữ đề trên bảng đó viết bằng chữ Hê-bơ-rơ, chữ La-tinh và chữ Gờ-réc, nên có nhiều người Giu-đa đọc đến.

:「』,』。」

yóu tài rén de jì sī zhǎng jiù duì bǐ lā duō shuō :「 bú yào xiě 『 yóu tài rén de wáng 』, yào xiě 『 tā zì jǐ shuō : wǒ shì yóu tài rén de wáng 』。」

Các thầy tế lễ cả của dân Giu-đa bèn nói với Phi-lát rằng: Xin đừng viết: Vua dân Giu-đa; nhưng viết rằng, người nói: Ta là Vua dân Giu-đa.

:「。」

bǐ lā duō shuō :「 wǒ suǒ xiě de , wǒ yǐ jīng xiě shàng le 。」

Phi-lát trả lời rằng: Lời ta đã viết, thì ta đã viết rồi.

bīng dīng jì rán jiāng yē sū dīng zài shí zì jià shàng , jiù ná tā de yī fu fēn wéi sì fēn , měi bīng yì fēn ; yòu ná tā de lǐ yī , zhè jiàn lǐ yī yuán lái méi yǒu fèng ér , shì shàng xià yí piàn zhī chéng de 。

Quân lính đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus trên thập tự giá rồi, bèn lấy áo xống của Ngài chia làm bốn phần, mỗi tên lính chiếm một phần. Họ cũng lấy áo dài của Ngài, nhưng áo dài đó không có đường may, nguyên một tấm vải dệt ra, từ trên chí dưới.

:「。」

tā men jiù bǐ cǐ shuō :「 wǒ men bú yào sī kāi , zhǐ yào niān jiū , kàn shuí dé zhe 。」 zhè yào yìng yàn jīng shàng de huà shuō : tā men fēn le wǒ de wài yī , wèi wǒ de lǐ yī niān jiū 。 bīng dīng guǒ rán zuò le zhè shì 。

Vậy, họ nói với nhau rằng: Đừng xé áo nầy ra, song chúng ta hãy bắt thăm, ai trúng nấy được. Aáy để cho được ứng nghiệm lời Kinh Thánh nầy: Chúng đã chia nhau áo xống của ta, Lại bắt thăm lấy áo dài ta. Đó là việc quân lính làm.

zhàn zài yē sū shí zì jià páng biān de , yǒu tā mǔ qīn yǔ tā mǔ qīn de zǐ mèi , bìng gé luó bà de qī zǐ mǎ lì yà , hé mǒ dà lā de mǎ lì yà 。

Tại một bên thập tự giá của Đức Chúa Jêsus, có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ Ngài là Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len nữa.

:「!」

yē sū jiàn mǔ qīn hé tā suǒ ài de nà mén tú zhàn zài páng biān , jiù duì tā mǔ qīn shuō :「 mǔ qīn , kàn , nǐ de ér zi !」

Đức Chúa Jêsus thấy mẹ mình, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng: Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi!

:「!」

yòu duì nà mén tú shuō :「 kàn , nǐ de mǔ qīn !」 cóng cǐ , nà mén tú jiù jiē tā dào zì jǐ jiā lǐ qù le 。

Đoạn, Ngài lại phán cùng người môn đồ rằng: Đó là mẹ ngươi! Bắt đầu từ bấy giờ, môn đồ ấy rước người về nhà mình.

使:「。」

zhè shì yǐ hòu , yē sū zhī dào gè yàng de shì yǐ jīng chéng le , wèi yào shǐ jīng shàng de huà yìng yàn , jiù shuō :「 wǒ kě le 。」

Sau đó, Đức Chúa Jêsus biết mọi việc đã được trọn rồi, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, thì phán rằng: Ta khát.

yǒu yí gè qì mǐn shèng mǎn le cù , fàng zài nà lǐ ; tā men jiù ná hǎi róng zhàn mǎn le cù , bǎng zài niú xī cǎo shàng , sòng dào tā kǒu 。

Tại đó, có một cái bình đựng đầy giấm. Vậy, họ lấy một miếng bông đá thấm đầy giấm, buộc vào cây ngưu tất đưa kề miệng Ngài.

:「!」便

yē sū cháng liǎo nà cù , jiù shuō :「 chéng le !」 biàn dī xià tóu , jiāng líng hún jiāo fù shén le 。

Khi Đức Chúa Jêsus chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn.

yóu tài rén yīn zhè rì shì yù bèi rì , yòu yīn nà ān xī rì shì gè dà rì , jiù qiú bǐ lā duō jiào rén dǎ duàn tā men de tuǐ , bǎ tā men ná qù , miǎn de shī shǒu dāng ān xī rì liú zài shí zì jià shàng 。

Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà Sa-bát nầy là rất trọng thể, nên dân Giu-đa ngại rằng những thây còn treo lại trên thập tự giá trong ngày Sa-bát chăng, bèn xin Phi-lát cho đánh gãy ống chân những người đó và cất xuống.

yú shì bīng dīng lái , bǎ tóu yí gè rén de tuǐ , bìng yǔ yē sū tóng dīng dì èr gè rén de tuǐ , dōu dǎ duàn le 。

Vậy, quân lính lại, đánh gãy ống chân người thứ nhất, rồi đến người kia, tức là kẻ cùng bị đóng đinh với Ngài.

zhǐ shì lái dào yē sū nà lǐ , jiàn tā yǐ jīng sǐ le , jiù bù dǎ duàn tā de tuǐ 。

Khi quân lính đến nơi Đức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết rồi, thì không đánh gãy ống chân Ngài;

wéi yǒu yí gè bīng ná qiāng zhā tā de lèi páng , suí jí yǒu xuè hé shuǐ liú chū lái 。

nhưng có một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra.

kàn jiàn zhè shì de nà rén jiù zuò jiàn zhèng — tā de jiàn zhèng yě shì zhēn de , bìng qiě tā zhī dào zì jǐ suǒ shuō de shì zhēn de — jiào nǐ men yě kě yǐ xìn 。

Kẻ đã thấy thì làm chứng về việc đó, (lời chứng của người là thật, và người vẫn biết mình nói thật vậy), hầu cho các ngươi cũng tin.

:「。」

zhè xiē shì chéng le , wèi yào yìng yàn jīng shàng de huà shuō :「 tā de gǔ tou yì gēn yě bù kě zhé duàn 。」

Vì điều đó xảy ra, cho được ứng nghiệm lời Kinh Thánh nầy: Chẳng một cái xương nào của Ngài sẽ bị gãy.

:「。」

jīng shàng yòu yǒu yí jù shuō :「 tā men yào yǎng wàng zì jǐ suǒ zhā de rén 。」

Lại có lời Kinh Thánh nầy nữa: Chúng sẽ ngó thấy người mà mình đã đâm.

zhè xiē shì yǐ hòu , yǒu yà lì mǎ tài rén yuē sè , shì yē sū de mén tú , zhī yīn pà yóu tài rén , jiù àn àn dì zuò mén tú 。 tā lái qiú bǐ lā duō , yào bǎ yē sū de shēn tǐ lǐng qù 。 bǐ lā duō yǔn zhǔn , tā jiù bǎ yē sū de shēn tǐ lǐng qù le 。

Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê, làm môn đồ Đức Chúa Jêsus một cách kín giấu, vì sợ dân Giu-đa, xin phép Phi-lát cho lấy xác Đức Chúa Jêsus; thì Phi-lát cho phép. Vậy, người đến và lấy xác Ngài.

yòu yǒu ní gē dé mù , jiù shì xiān qián yè lǐ qù jiàn yē sū de , dài zhe mò yào hé chén xiāng yuē yǒu yì bǎi jīn qián lái 。

Ni-cô-đem, là người khi trước đã tới cùng Đức Chúa Jêsus trong ban đêm, bấy giờ cũng đến, đem theo độ một trăm cân một dược hòa với lư hội.

tā men jiù zhào yóu tài rén bìn zàng de guī jǔ , bǎ yē sū de shēn tǐ yòng xì má bù jiā shàng xiāng liào guǒ hǎo le 。

Vậy, hai người lấy xác Đức Chúa Jêsus, dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giu-đa.

zài yē sū dīng shí zì jià de dì fāng yǒu yí gè yuán zǐ , yuán zǐ lǐ yǒu yí zuò xīn fén mù , shì cóng lái méi yǒu zàng guò rén de 。

Vả, tại nơi Ngài bị đóng đinh, có một cái vườn, trong vườn đó có một cái huyệt mới, chưa chôn ai.

zhī yīn shì yóu tài rén de yù bèi rì , yòu yīn nà fén mù jìn , tā men jiù bǎ yē sū ān fàng zài nà lǐ 。

Aáy là nơi hai người chôn Đức Chúa Jêsus, vì bấy giờ là ngày sắm sửa của dân Giu-đa, và mộ ấy ở gần.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.