中文圣经

GIÔ-NA 4

đã biết 0/138

zhè shì yuē ná dà dà bú yuè , qiě shèn fā nù ,

Bấy giờ Giô-na rất không đẹp lòng, và giận dữ.

:「

jiù dǎo gào yē hé huá shuō :「 yē hé huá a , wǒ zài běn guó de shí hòu qǐ bú shì zhè yàng shuō ma ? wǒ zhī dào nǐ shì yǒu ēn diǎn 、 yǒu lián mǐn de shén , bù qīng yì fā nù , yǒu fēng shèng de cí ài , bìng qiě hòu huǐ bú jiàng suǒ shuō de zāi , suǒ yǐ wǒ jí sù táo wǎng tā shī qù 。

Người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi cầu xin Ngài, ấy há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao? Vì đó nên tôi lật đật trốn qua Ta-rê-si vậy. Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, và đổi ý không xuống tai vạ.

。」

yē hé huá a , xiàn zài qiú nǐ qǔ wǒ de mìng ba ! yīn wèi wǒ sǐ le bǐ huó zhe hái hǎo 。」

Hỡi Đức Giê-hô-va, vậy bây giờ, tôi nài xin Ngài hãy cất lấy sự sống tôi; vì về phần tôi, chết còn hơn sống!

:「?」

yē hé huá shuō :「 nǐ zhè yàng fā nù hé hū lǐ ma ?」

Đức Giê-hô-va trả lời cùng người rằng: Ngươi giận có nên không?

yú shì yuē ná chū chéng , zuò zài chéng de dōng biān , zài nà lǐ wèi zì jǐ dā le yí zuò péng , zuò zài péng de yìn xià , yào kàn kàn nà chéng jiū jìng rú hé 。

Bấy giờ Giô-na ra khỏi thành Ni-ni-ve, ngồi phía đông thành ấy. Tại đó, người làm một cái chòi, ngồi dưới bóng chòi ấy mà đợi xem điều sẽ xảy đến cho thành ấy.

使

yē hé huá shén ān pái yì kē bì má , shǐ qí fā shēng gāo guò yuē ná , yǐng ér zhē gài tā de tóu , jiù tā tuō lí kǔ chǔ ; yuē ná yīn zhè kē bì má dà dà xǐ lè 。

Vả, Đức Giê-hô-va sắm sẵn một dây dưa cao lên bên trên Giô-na, đặng phủ bóng trên đầu người, và cứu người khỏi sự khổ cực. Giô-na rất vui vì cớ dây ấy.

cì rì lí míng , shén què ān pái yì tiáo chóng zǐ yǎo zhè bì má , yǐ zhì kū gǎo 。

Nhưng bữa sau, vừa lúc hừng đông, Đức Chúa Trời sắm một con sâu, sâu chích dây ấy đến nỗi héo.

使:「!」

rì tou chū lái de shí hòu , shén ān pái yán rè de dōng fēng , rì tou pù shài yuē ná de tóu , shǐ tā fā hūn , tā jiù wèi zì jǐ qiú sǐ , shuō :「 wǒ sǐ le bǐ huó zhe hái hǎo !」

Đoạn, đến khi mặt trời mọc, Đức Chúa Trời sắm gió cháy thổi từ phương đông, và mặt trời giọi xuống trên đầu Giô-na, đến nỗi ngất đi, và cầu chết mà rằng: Về phần tôi, chết còn hơn sống!

:「?」:「!」

shén duì yuē ná shuō :「 nǐ yīn zhè kē bì má fā nù hé hū lǐ ma ?」 tā shuō :「 wǒ fā nù yǐ zhì yú sǐ , dōu hé hū lǐ !」

Đức Chúa Trời bèn phán cùng Giô-na rằng: Ngươi nổi giận vì cớ dây nầy có nên không? Người thưa rằng: Tôi giận cho đến chết cũng phải lắm.

:「

yē hé huá shuō :「 zhè bì má bú shì nǐ zāi zhòng de , yě bú shì nǐ péi yǎng de ; yí yè fā shēng , yí yè gān sǐ , nǐ shàng qiě ài xī ;

Đức Giê-hô-va lại phán: Ngươi đoái tiếc một dây mà ngươi chưa hề khó nhọc vì nó, ngươi không làm cho nó mọc, một đêm thấy nó sanh ra và một đêm thấy nó chết.

?」

hé kuàng zhè ní ní wēi dài chéng , qí zhōng bù néng fēn biàn zuǒ shǒu yòu shǒu de yǒu shí èr wàn duō rén , bìng yǒu xǔ duō shēng chù , wǒ qǐ néng bú ài xī ne ?」

Còn ta, há không đoái tiếc thành lớn Ni-ni-ve, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số thú vật rất nhiều hay sao?

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.