中文圣经

GIÔ-SUÊ 22

đã biết 0/291

便西

dāng shí , yuē shū yà zhào le lǚ biàn rén 、 jiā dé rén , hé mǎ ná xī bàn zhī pài de rén lái ,

Bấy giờ, Giô-suê gọi người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se,

:「西

duì tā men shuō :「 yē hé huá pú rén mó xī suǒ fēn fù nǐ men de , nǐ men dōu zūn shǒu le ; wǒ suǒ fēn fù nǐ men de , nǐ men yě dōu tīng cóng le 。

mà nói rằng: Các ngươi đã giữ theo mọi điều Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, truyền cho các ngươi, và có vâng theo tiếng ta trong mọi điều ta dặn biểu.

nǐ men zhè xǔ duō rì zi , zǒng méi yǒu piě lí nǐ men de dì xiong , zhí dào jīn rì , bìng shǒu le yē hé huá — nǐ men shén suǒ fēn fù nǐ men dāng shǒu de 。

Trong khoảng lâu ngày nay, các ngươi không có bỏ anh em mình cho đến ngày nay, và có vâng giữ mọi điều phải vâng giữ, tức là mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.

使西

rú jīn yē hé huá — nǐ men shén zhào zhe tā suǒ yìng xǔ de , shǐ nǐ men dì xiong dé xiǎng píng ān , xiàn zài kě yǐ zhuǎn huí nǐ men de zhàng péng , dào yē hé huá de pú rén mó xī zài yuē dàn hé dōng suǒ cì nǐ men wèi yè zhī dì 。

Nên bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ban sự an nghỉ cho anh em các ngươi, y như lời Ngài đã phán. Vậy, hãy đi trở về trại các ngươi trong xứ thuộc về các ngươi mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho các ngươi ở bên kia sông Giô-đanh.

西 。」

zhǐ yào qiè qiè dì jǐn shèn zūn xíng yē hé huá pú rén mó xī suǒ fēn fù nǐ men de jiè mìng lǜ fǎ , ài yē hé huá — nǐ men de shén , xíng tā yí qiè de dào , shǒu tā de jiè mìng , zhuān kào tā , jìn xīn jìn xìng shì fèng tā 。」

Song phải cẩn thận làm theo điều răn và luật pháp mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho các ngươi, tức là thương yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, đi theo đường lối Ngài, giữ các điều răn Ngài, tríu mến Ngài, và hết lòng hết ý phục sự Ngài.

yú shì yuē shū yà wèi tā men zhù fú , dǎ fā tā men qù , tā men jiù huí zì jǐ de zhàng péng qù le 。

Giô-suê bèn chúc phước cho họ, rồi cho họ về; họ đều trở về trại mình.

西西西

mǎ ná xī nà bàn zhī pài , mó xī zǎo yǐ zài bā shān fēn gěi tā men dì yè 。 zhè bàn zhī pài , yuē shū yà zài yuē dàn hé xī , zài tā men dì xiong zhōng , fēn gěi tā men dì yè 。 yuē shū yà dǎ fā tā men huí zhàng péng de shí hòu wèi tā men zhù fú ,

Vả, Môi-se đã ban cho phân nửa chi phái Ma-na-se một sản nghiệp ở tại Ba-san; còn Giô-suê ban cho phân nửa kia một sản nghiệp chung với anh em mình ở bên này sông Giô-đanh, về phía tây. Khi Giô-suê cho chúng trở về trại mình, thì chúc phước cho,

:「。」

duì tā men shuō :「 nǐ men dài xǔ duō cái wù , xǔ duō shēng chù hé jīn 、 yín 、 tóng 、 tiě , bìng xǔ duō yī fu , huí nǐ men de zhàng péng qù , yào jiāng nǐ men cóng chóu dí duó lái de wù , yǔ nǐ men zhòng dì xiong tóng fēn 。」

và nói rằng: Các ngươi trở về trại mình có đem của cải rất nhiều, có lắm bầy súc vật, cùng vàng, bạc, đồng, sắt, và áo xống phủ phê; hãy chia cho anh em mình của cướp được nơi thù nghịch các ngươi.

便西西

yú shì lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī bàn zhī pài de rén cóng jiā nán dì de shì luó qǐ xíng , lí kāi yǐ sè liè rén , huí wǎng tā men dé wèi yè de jī liè dì , jiù shì zhào yē hé huá jiè mó xī suǒ fēn fù de dé le wèi yè zhī dì 。

Vậy, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se lìa dân Y-sơ-ra-ên tại Si-lô ở xứ Ca-na-an, đặng trở về Ga-la-át, là sản nghiệp mình, mà mình đã nhận lấy theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền cho.

便西

lǚ biàn rén 、 jiā dé rén , hé mǎ ná xī bàn zhī pài de rén dào le kào jìn yuē dàn hé de yí dài jiā nán dì , jiù zài yuē dàn hé nà lǐ zhù le yí zuò tán ; nà tán kàn zhe gāo dà 。

Khi đến trong địa hạt Giô-đanh thuộc về xứ Ca-na-an, thì người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se lập một bàn thờ tại đó gần sông Giô-đanh; bàn thờ ấy xem thấy rất cao lớn.

便西

yǐ sè liè rén tīng shuō lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī bàn zhī pài de rén kào jìn yuē dàn hé biān , zài jiā nán dì shǔ yǐ sè liè rén de nà biān zhù le yí zuò tán 。

Dân Y-sơ-ra-ên nghe được người ta nói rằng: Kìa người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se đã lập một bàn thờ trong địa hạt Giô-đanh đối ngang xứ Ca-na-an, bên cạnh dân Y-sơ-ra-ên.

quán huì zhòng yì tīng jiàn , jiù jù jí zài shì luó , yào shàng qù gōng dǎ tā men 。

Khi dân Y-sơ-ra-ên hay được điều đó, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên bèn hiệp lại tại Si-lô, đặng kéo lên hãm đánh họ.

便西

yǐ sè liè rén dǎ fā jì sī yǐ lì yà sā de ér zi fēi ní hā , wǎng jī liè dì qù jiàn lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī bàn zhī pài de rén ;

Dân Y-sơ-ra-ên sai Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, đến cùng người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se tại xứ Ga-la-át;

yòu dǎ fā shí gè shǒu lǐng yǔ fēi ní hā tóng qù , jiù shì yǐ sè liè měi zhī pài de yí gè shǒu lǐng , dōu shì yǐ sè liè jūn zhōng de tǒng lǐng 。

cũng có mười trưởng tộc theo người, một trưởng tộc cho mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên; mỗi người trong họ là trưởng tộc của hàng ngàn người Y-sơ-ra-ên.

便西

tā men dào le jī liè dì , jiàn lǚ biàn rén 、 jiā dé rén , hé mǎ ná xī bàn zhī pài de rén , duì tā men shuō :

Chúng đến gần người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se trong xứ Ga-la-át, mà nói rằng:

「 yē hé huá quán huì zhòng zhè yàng shuō , nǐ men jīn rì zhuǎn qù bù gēn cóng yē hé huá , gān fàn yǐ sè liè de shén , wèi zì jǐ zhù yí zuò tán , bèi nì le yē hé huá , zhè fàn de shì shén me zuì ne ?

Cả hội chúng của Đức Giê-hô-va có hỏi như vầy: Sự bất trung này mà các ngươi đã phạm cùng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là chi? Vì sao ngày nay các ngươi bỏ Đức Giê-hô-va, mà lập một bàn thờ đặng phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va?

cóng qián bài pí ěr de zuì niè hái suàn xiǎo ma ? suī rán wēn yì lín dào yē hé huá de huì zhòng , dào jīn rì wǒ men hái méi yǒu xǐ jìng zhè zuì 。

Tội ác của Phê-ô gây vạ cho cả hội chúng của Đức Giê-hô-va, mà đến bây giờ chúng ta chưa rửa sạch được, há là một việc nhỏ mọn cho chúng ta sao?

nǐ men jīn rì jìng zhuǎn qù bù gēn cóng yē hé huá ma ? nǐ men jīn rì jì bèi nì yē hé huá , míng rì tā bì xiàng yǐ sè liè quán huì zhòng fā nù 。

Ngày nay các ngươi lại bỏ Đức Giê-hô-va ư! Vả, nếu ngày nay các ngươi phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va, ngày mai chắc Ngài sẽ nổi giận cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.

nǐ men suǒ dé wèi yè zhī dì , ruò xián bù jié jìng , jiù kě yǐ guò dào yē hé huá zhī dì , jiù shì yē hé huá de zhàng mù suǒ zhù zhī dì , zài wǒ men zhōng jiān dé dì yè 。 zhǐ shì bù kě bèi nì yē hé huá , yě bù kě dé zuì wǒ men , zài yē hé huá — wǒ men shén de tán yǐ wài wèi zì jǐ zhù tán 。

Song nếu đất các ngươi nhận được bị ô uế, thì hãy đi qua đất mà Đức Giê-hô-va đã chiếm lấy, là nơi đã lập đền tạm của Đức Giê-hô-va, và hãy lập nghiệp ở giữa chúng ta; nhưng chớ phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va, và đừng phân rẽ chúng ta ra, mà lập một bàn thờ kình địch cùng bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.

忿。」

cóng qián xiè lā de céng sūn yà gān qǐ bú shì zài nà dāng miè de wù shàng fàn le zuì , jiù yǒu fèn nù lín dào yǐ sè liè quán huì zhòng ma ? nà rén zài suǒ fàn de zuì zhōng bù dú yì rén sǐ wáng 。」

A-can, con trai Xê-rách, há chẳng có phạm một tội bất trung về vật đáng diệt, và cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va há chẳng nổi phừng cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sao? Và người ấy chẳng phải một mình chết vì tội mình đâu!

便西

yú shì lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī bàn zhī pài de rén huí dá yǐ sè liè jūn zhōng de tǒng lǐng shuō :

Bấy giờ, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se đáp cùng trưởng tộc hàng ngàn người Y-sơ-ra-ên, mà rằng:

),

「 dà néng zhě shén yē hé huá ! dà néng zhě shén yē hé huá ! tā shì zhī dào de ! yǐ sè liè rén yě bì zhī dào ! wǒ men ruò yǒu bèi nì de yì sī , huò shì gān fàn yē hé huá ( yuàn nǐ jīn rì bù bǎo yòu wǒ men ),

Giê-hô-va, Đức Chúa Trời toàn năng, Giê-hô-va, Đức Chúa Trời toàn năng biết điều đó, và Y-sơ-ra-ên sẽ rõ! Nếu ấy là phản nghịch, nếu là bất trung cùng Đức Giê-hô-va, thì ngày nay chớ cứu chúng tôi!

wèi zì jǐ zhù tán , yào zhuǎn qù bù gēn cóng yē hé huá , huò shì yào jiāng fán jì 、 sù jì 、 píng ān jì xiàn zài tán shàng , yuàn yē hé huá qīn zì tǎo wǒ men de zuì 。

Nếu chúng tôi có lập một bàn thờ đặng lìa bỏ Đức Giê-hô-va, nếu để dâng của lễ thiêu, của lễ chay, và của lễ thù ân tại đó, nguyện chính Đức Giê-hô-va đòi lại chúng tôi!

:『

wǒ men xíng zhè shì bìng fēi wú gù , shì tè yì zuò de , shuō : kǒng pà rì hòu nǐ men de zǐ sūn duì wǒ men de zǐ sūn shuō :『 nǐ men yǔ yē hé huá — yǐ sè liè de shén yǒu hé guān shè ne ?

Chúng tôi có ý lập bàn thờ, vì chúng tôi sợ con cháu của anh em một mai nói cùng con cháu chúng tôi rằng: Các ngươi có chi chung cùng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?

便。』使

yīn wèi yē hé huá bǎ yuē dàn hé dìng wèi wǒ men hé nǐ men zhè lǚ biàn rén 、 jiā dé rén de jiāo jiè , nǐ men yǔ yē hé huá wú fēn le 。』 zhè yàng , nǐ men de zǐ sūn jiù shǐ wǒ men de zǐ sūn bú zài jìng wèi yē hé huá le 。

Hỡi con cháu Ru-bên, con cháu Gát, Đức Giê-hô-va đã đặt sông Giô-đanh làm giới hạn giữa chúng ta và các ngươi; các ngươi chẳng có phần chi nơi Đức Giê-hô-va! Như vậy con cháu của anh em sẽ làm cho con cháu chúng tôi thôi kính sợ Đức Giê-hô-va.

:『

yīn cǐ wǒ men shuō :『 bù rú wèi zì jǐ zhù yí zuò tán , bú shì wèi xiàn fán jì , yě bú shì wèi xiàn bié de jì ,

Bởi cớ đó, chúng tôi có nói rằng: Chúng ta hãy lập một bàn thờ, chẳng phải để dâng của lễ thiêu hay là dâng hi sinh;

。』

nǎi shì wèi nǐ wǒ zhōng jiān hé nǐ wǒ hòu rén zhōng jiàn zuò zhèng jù , hǎo jiào wǒ men yě zài yē hé huá miàn qián xiàn fán jì 、 píng ān jì , hé bié de jì shì fèng tā , miǎn de nǐ men de zǐ sūn rì hòu duì wǒ men de zǐ sūn shuō , nǐ men yǔ yē hé huá wú fēn le 。』

nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và anh em cùng con cháu sau chúng ta rằng chúng tôi dùng của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, và của lễ thù ân mà giữ cuộc thờ phượng của Đức Giê-hô-va trước mặt Ngài; hầu cho về sau con cháu anh em không nói cùng con cháu chúng tôi rằng: Các ngươi không có phần nơi Đức Giê-hô-va!

:『。』

suǒ yǐ wǒ men shuō :『 rì hòu nǐ men duì wǒ men , huò duì wǒ men de hòu rén zhè yàng shuō , wǒ men jiù kě yǐ huí dá shuō , nǐ men kàn wǒ men liè zǔ suǒ zhù de tán shì yē hé huá tán de yàng shì ; zhè bìng bú shì wèi xiàn fán jì , yě bú shì wèi xiàn bié de jì , nǎi shì wèi zuò nǐ wǒ zhōng jiān de zhèng jù 。』

Lại chúng tôi có nói: Khi nào họ sẽ nói điều đó cùng chúng tôi, hay là nói cùng con cháu sau chúng tôi, thì chúng tôi sẽ nói: Hãy xem hình dạng bàn thờ Đức Giê-hô-va, mà tổ phụ chúng ta đã lập, nào phải dùng cho của lễ thiêu hay là dâng hi sinh, nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và các ngươi!

。」

wǒ men zài yē hé huá — wǒ men shén zhàng mù qián de tán yǐ wài , lìng zhù yí zuò tán , wèi xiàn fán jì 、 sù jì , hé bié de jì , bèi nì yē hé huá , jīn rì zhuǎn qù bù gēn cóng tā , wǒ men duàn méi yǒu zhè ge yì sī 。」

Chúng tôi ngày nay quyết không có ý phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va và lìa bỏ Ngài, mà lập một bàn thờ khác hơn bàn thờ trước mặt đền tạm của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, đặng dùng nó dâng của lễ thiêu, của lễ chay, và những hi sinh.

便西

jì sī fēi ní hā yù huì zhōng de shǒu lǐng , jiù shì yǔ tā tóng lái yǐ sè liè jūn zhōng de tǒng lǐng , tīng jiàn lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī rén suǒ shuō de huà , jiù dōu yǐ wéi měi 。

Khi thầy tế lễ Phi-nê-a, các mục bá của hội chúng, các quan trưởng của hàng ngàn người Y-sơ-ra-ên đi theo người, đã nghe những lời của người Ru-bên, người Gát, và phân nửa chi phái Ma-na-se nói, thì điều lấy làm bằng lòng.

便西:「。」

jì sī yǐ lì yà sā de ér zi fēi ní hā duì lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 mǎ ná xī rén shuō :「 jīn rì wǒ men zhī dào yē hé huá zài wǒ men zhōng jiān , yīn wèi nǐ men méi yǒu xiàng tā fàn le zhè zuì 。 xiàn zài nǐ men jiù yǐ sè liè rén tuō lí yē hé huá de shǒu le 。」

Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, nói cùng người Ru-bên, người Gát, và người Ma-na-se, mà rằng: Ngày nay chúng tôi biết rằng Đức Giê-hô-va ngự giữa chúng ta, vì các ngươi không có phạm tội bất trung này cùng Đức Giê-hô-va; như vậy các ngươi đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay Đức Giê-hô-va.

便便

jì sī yǐ lì yà sā de ér zi fēi ní hā yǔ zhòng shǒu lǐng lí le lǚ biàn rén 、 jiā dé rén , cóng jī liè dì huí wǎng jiā nán dì , dào le yǐ sè liè rén nà lǐ , biàn jiāng zhè shì huí bào tā men 。

Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, cùng các quan trưởng từ giã người Ru-bên, người Gát ở xứ Ga-la-át, trở về xứ Ca-na-an cùng dân Y-sơ-ra-ên, thuật lại điều đã xảy qua.

便

yǐ sè liè rén yǐ zhè shì wèi měi , jiù chēng sòng shén , bú zài tí shàng qù gōng dǎ lǚ biàn rén 、 jiā dé rén 、 huǐ huài tā men suǒ zhù de dì le 。

Việc này dân Y-sơ-ra-ên lấy làm đẹp lòng; chúng bèn ngợi khen Đức Chúa Trời, và chẳng còn toan kéo lên đánh người Ru-bên và người Gát, đặng tàn hại xứ họ ở.

便

lǚ biàn rén 、 jiā dé rén gěi tán qǐ míng jiào zhèng tán , yì sī shuō : zhè tán zài wǒ men zhōng jiān zhèng míng yē hé huá shì shén 。

Vì vậy, người Ru-bên và người Gát đặt tên bàn thờ là Eát, vì nói rằng nó làm chứng giữa chúng ta rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.