中文圣经

GIÔ-SUÊ 7

đã biết 0/278

yǐ sè liè rén zài dāng miè de wù shàng fàn le zuì ; yīn wèi yóu dà zhī pài zhōng , xiè lā de zēng sūn , sā dǐ de sūn zi , jiā mǐ de ér zǐ yà gān qǔ le dāng miè de wù ; yē hé huá de nù qì jiù xiàng yǐ sè liè rén fā zuò 。

Song dân Y-sơ-ra-ên có phạm một tội về vật đáng diệt; vì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách về chi phái Giu-đa, có lấy vật đáng diệt và cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên cùng dân Y-sơ-ra-ên.

·:「。」

dāng xià , yuē shū yà cóng yē lì gē dǎ fā rén wǎng bó tè lì dōng biān 、 kào jìn bó · yà wén de ài chéng qù , fēn fù tā men shuō :「 nǐ men shàng qù kuī tàn nà dì 。」 tā men jiù shàng qù kuī tàn ài chéng 。

ỳ Giê-ri-cô Giô-suê sai người đến thành A-hi gần Bết-A-ven, về phía đông Bê-tên, và truyền lịnh này rằng: Hãy đi lên do thám xứ. Vậy, các người ấy đi lên do thám thành A-hi.

:「。」

tā men huí dào yuē shū yà nà lǐ , duì tā shuō :「 zhòng mín bú bì dōu shàng qù , zhǐ yào èr sān qiān rén shàng qù jiù néng gōng qǔ ài chéng ; bú bì láo lèi zhòng mín dōu qù , yīn wèi nà lǐ de rén shǎo 。」

Đoạn trở về cùng Giô-suê mà rằng: Lấy làm vô ích đem cả dân sự đi lên đó; nhưng hãy cho chừng vài ba ngàn người đi lên đó mà đánh thành A-hi. Chớ làm cho mệt nhọc cả dân chúng đi đó; vì người A-hi ít quá.

yú shì mín zhōng yuē yǒu sān qiān rén shàng nà lǐ qù , jìng zài ài chéng rén miàn qián táo pǎo le 。

Vậy, có chừng ba ngàn người đi lên đó; nhưng họ chạy trốn trước mặt người A-hi.

ài chéng de rén jī shā le tā men sān shí liù rén , cóng chéng mén qián zhuī gǎn tā men , zhí dào shì bā lín , zài xià pō shā bài tā men ; zhòng mín de xīn jiù xiāo huà rú shuǐ 。

Người A-hi giết chừng ba mươi sáu người, rượt theo họ từ cửa thành cho đến Sê-ba-rim, và đánh họ lúc đi xuống dốc. Lòng dân sự bèn tan ra như nước.

便

yuē shū yà biàn sī liè yī fu ; tā hé yǐ sè liè de zhǎng lǎo bǎ huī sā zài tóu shàng , zài yē hé huá de yuē guì qián fǔ fú zài dì , zhí dào wǎn shàng 。

Giô-suê bèn xé áo mình, rồi người và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên sấp mặt xuống đất trước hòm của Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối, và vải bụi đất trên đầu mình.

:「使

yuē shū yà shuō :「 āi zāi ! zhǔ yē hé huá a , nǐ wèi shén me jìng lǐng zhè bǎi xìng guò yuē dàn hé , jiāng wǒ men jiāo zài yà mó lì rén de shǒu zhōng , shǐ wǒ men miè wáng ne ? wǒ men bù rú zhù zài yuē dàn hé nà biān dǎo hǎo 。

Giô-suê nói: Oâi! Chúa Giê-hô-va, sao Ngài đem dân này qua sông Giô-đanh đặng phó chúng tôi vào tay dân A-mô-rít mà làm cho diệt đi? Oâi! chớ chi chúng tôi chọn phần ở lại bên kia sông Giô-đanh!

zhǔ a , yǐ sè liè rén jì zài chóu dí miàn qián zhuǎn bèi táo pǎo , wǒ hái yǒu shén me kě shuō de ne ?

Than ôi! hỡi Chúa, sau khi Y-sơ-ra-ên đã xây lưng trước mặt kẻ thù nghịch mình, tôi còn nói làm sao?

?」

jiā nán rén hé zhè dì yí qiè de jū mín tīng jiàn le jiù bì wéi kùn wǒ men , jiāng wǒ men de míng cóng dì shàng chú miè 。 nà shí nǐ wèi nǐ de dà míng yào zěn yàng xíng ne ?」

Dân Ca-na-an và cả dân ở xứ này sẽ hay điều đó, sẽ vây chúng tôi, và diệt danh chúng tôi khỏi đất; rồi Chúa sẽ làm sao cho danh lớn Chúa?

:「

yē hé huá fēn fù yuē shū yà shuō :「 qǐ lái ! nǐ wèi hé zhè yàng fǔ fú zài dì ne ?

Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: Hãy đứng dậy; sao ngươi sấp mặt xuống đất như vậy?

yǐ sè liè rén fàn le zuì , wéi bèi le wǒ suǒ fēn fù tā men de yuē , qǔ le dāng miè de wù ; yòu tōu qiè , yòu xíng guǐ zhà , yòu bǎ nà dāng miè de fàng zài tā men de jiā jù lǐ 。

Y-sơ-ra-ên có phạm tội; chúng nó bội nghịch giao ước ta đã truyền cho đến nỗi dám lấy vật đáng diệt, ăn cắp vật đó, làm dối trá, và để trong bao mình.

yīn cǐ , yǐ sè liè rén zài chóu dí miàn qián zhàn lì bú zhù 。 tā men zài chóu dí miàn qián zhuǎn bèi táo pǎo , shì yīn chéng le bèi zhòu zǔ de ; nǐ men ruò bù bǎ dāng miè de wù cóng nǐ men zhōng jiān chú diào , wǒ jiù bú zài yǔ nǐ men tóng zài le 。

Bởi cớ đó, dân Y-sơ-ra-ên không thế chống cự nổi trước mặt kẻ thù nghịch mình, phải xây lưng trước mặt chúng nó, vì Y-sơ-ra-ên đã trở nên kẻ bị rủa sả. Nếu các ngươi không cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy, thì ta không còn ở cùng các ngươi nữa.

:『 !』

nǐ qǐ lái , jiào bǎi xìng zì jié , duì tā men shuō :『 nǐ men yào zì jié , yù bèi míng tiān , yīn wèi yē hé huá — yǐ sè liè de shén zhè yàng shuō : yǐ sè liè a , nǐ men zhōng jiān yǒu dāng miè de wù , nǐ men ruò bù chú diào , zài chóu dí miàn qián bì zhàn lì bú zhù !』

Hãy đứng dậy làm cho dân sự nên thánh, và hãy nói rằng: Các ngươi khá làm cho mình nên thánh về ngày mai; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi có vật đáng diệt tại giữa ngươi! ngươi không thế chống cự nổi trước mặt kẻ thù nghịch mình cho đến chừng nào các ngươi đã cất khỏi giữa mình vật đáng diệt ấy.

dào le zǎo chén , nǐ men yào àn zhe zhī pài jìn qián lái ; yē hé huá suǒ qǔ de zhī pài , yào àn zhe zōng zú jìn qián lái ; yē hé huá suǒ qǔ de zōng zú , yào àn zhe jiā shì jìn qián lái ; yē hé huá suǒ qǔ de jiā shì , yào àn zhe rén dīng , yí gè yi gè dì jìn qián lái 。

Vậy, sáng mai các ngươi sẽ đi đến gần từng chi phái; chi phái nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng họ hàng; họ hàng nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng nhà; nhà nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra sẽ đến gần từng người.

。」

bèi qǔ de rén yǒu dāng miè de wù zài tā nà lǐ , tā hé tā suǒ yǒu de bì bèi huǒ fén shāo ; yīn tā wéi bèi le yē hé huá de yuē , yòu yīn tā zài yǐ sè liè zhōng háng le yú wàng de shì 。」

Người nào bị chỉ ra là kẻ có của đáng diệt đó, sẽ bị thiêu nơi lửa, cùng các món thuộc về người; vì người đã bội giao ước của Đức Giê-hô-va, và phạm sự xấu hổ trong Y-sơ-ra-ên.

使

yú shì , yuē shū yà qīng zǎo qǐ lái , shǐ yǐ sè liè rén àn zhe zhī pài jìn qián lái , qǔ chū lái de shì yóu dà zhī pài ;

Vậy, Giô-suê dậy sớm, biểu Y-sơ-ra-ên đến gần từng chi phái; và chi phái Giu-đa bị chỉ ra.

使 使

shǐ yóu dà zhī pài jìn qián lái , jiù qǔ le xiè lā de zōng zú ; shǐ xiè lā de zōng zú , àn zhe jiā shì rén dīng , yí gè yi gè dì jìn qián lái , qǔ chū lái de shì sā dǐ ;

Đoạn, người biểu các họ hàng Giu-đa đến gần; và họ hàng Xê-rách bị chỉ ra. Đoạn, người biểu họ hàng Xê-rách lại gần từng gia trưởng; và Xáp-đi bị chỉ ra.

使

shǐ sā dǐ de jiā shì , àn zhe rén dīng , yí gè yi gè dì jìn qián lái , jiù qǔ chū yóu dà zhī pài de rén xiè lā de zēng sūn , sā dǐ de sūn zi , jiā mǐ de ér zi yà gān 。

Người biểu nhà Xáp-đi đến gần từng người; thì A-can, con trai của Cạt-ni, cháu của Xáp-đi, bị chỉ ra.

:「耀 。」

yuē shū yà duì yà gān shuō :「 wǒ ér , wǒ quàn nǐ jiāng róng yào guī gěi yē hé huá — yǐ sè liè de shén , zài tā miàn qián rèn zuì , jiāng nǐ suǒ zuò de shì gào sù wǒ , bú yào xiàng wǒ yǐn mán 。」

Giô-suê bèn nói cùng A-can rằng: Hỡi con, xin hãy tôn vinh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và ngợi khen Ngài; hãy thú thật cho ta điều con đã làm, chớ giấu chút nào.

:「

yà gān huí dá yuē shū yà shuō :「 wǒ shí zài dé zuì le yē hé huá — yǐ sè liè de shén 。 wǒ suǒ zuò de shì rú cǐ rú cǐ :

A-can thưa cùng Giô-suê rằng: Phải, tôi đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và này là điều tôi đã làm:

便。」

wǒ zài suǒ duó de cái wù zhōng kàn jiàn yí jiàn měi hǎo de shì ná yī fu , èr bǎi shè kè lè yín zi , yì tiáo jīn zǐ zhòng wǔ shí shè kè lè , wǒ jiù tān ài zhè xiē wù jiàn , biàn ná qù le 。 xiàn jīn cáng zài wǒ zhàng péng nèi de dì lǐ , yín zi zài yī fu dǐ xià 。」

Tôi có thấy trong của cướp một cái áo choàng Si-nê-a tốt đẹp, hai trăm siếc lơ bạc, và một ném vàng nặng năm mươi siếc lơ; tôi tham muốn các món đó, và lấy nó; kìa, các vật ấy đã giấu dưới đất giữa trại tôi, còn bạc thì ở dưới.

yuē shū yà jiù dǎ fā rén pǎo dào yà gān de zhàng péng lǐ 。 nà jiàn yī fu guǒ rán cáng zài tā zhàng péng nèi , yín zi zài dǐ xià 。

Giô-suê bèn sai người chạy đến trại, thấy áo choàng giấu tại đó, và bạc thì ở dưới.

tā men jiù cóng zhàng péng lǐ qǔ chū lái , ná dào yuē shū yà hé yǐ sè liè zhòng rén nà lǐ , fàng zài yē hé huá miàn qián 。

Họ lấy các vật đó giữa trại, đem về cho Giô-suê và cho hết thảy dân Y-sơ-ra-ên, rồi để trước mặt Đức Giê-hô-va.

yuē shū yà hé yǐ sè liè zhòng rén bǎ xiè lā de céng sūn yà gān hé nà yín zi 、 nà jiàn yī fu 、 nà tiáo jīn zǐ , bìng yà gān de ér nǚ 、 niú 、 lǘ 、 yáng 、 zhàng péng , yǐ jí tā suǒ yǒu de , dōu dài dào yà gē gǔ qù 。

Bấy giờ, Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên bắt A-can, con cháu Xê-rách, cùng lấy bạc, áo choàng, nén vàng, con trai, con gái của người, bò, lừa, chiên, trại, và mọi vật chi thuộc về người, mà dẫn đến trong trũng A-cô.

:「。」

yuē shū yà shuō :「 nǐ wèi shén me lián lèi wǒ men ne ? jīn rì yē hé huá bì jiào nǐ shòu lián lèi 。」 yú shì yǐ sè liè zhòng rén yòng shí tou dǎ sǐ tā , jiāng shí tou rēng zài qí shàng , yòu yòng huǒ fén shāo tā suǒ yǒu de 。

Giô-suê nói: Sao ngươi có khuấy rối chúng ta? Đức Giê-hô-va chắc sẽ khuấy rối ngươi ngày nay. Rồi cả Y-sơ-ra-ên ném đá người; họ thiêu các người ấy trong lửa, và lấy đá lấp chúng nó lại.

zhòng rén zài yà gān shēn shàng duī chéng yí dà duī shí tou , zhí cún dào jīn rì 。 yú shì yē hé huá zhuǎn yì , bù fā tā de liè nù 。 yīn cǐ nà dì fāng míng jiào yà gē gǔ , zhí dào jīn rì 。

Kế ấy, chúng chất trên thây người một đống đá lớn, hãy còn cho đến ngày nay. Đức Giê-hô-va bèn nguôi cơn thạnh nộ Ngài. Bởi cớ đó, người ta gọi chỗ này là A-cô cho đến ngày nay.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.