中文圣经

GIÔ-SUÊ 8

đã biết 0/309

:「

yē hé huá duì yuē shū yà shuō :「 bú yào jù pà , yě bú yào jīng huáng 。 nǐ qǐ lái , shuài lǐng yí qiè bīng dīng shàng ài chéng qù , wǒ yǐ jīng bǎ ài chéng de wáng hé tā de mín 、 tā de chéng , bìng tā de dì , dōu jiāo zài nǐ shǒu lǐ 。

Kế đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: Ngươi chớ sợ, chớ ái ngại. Hãy đem theo mình hết thảy quân lính, chổi dậy đi lên hãm đánh thành A-hi. Kìa, ta đã phó vào tay ngươi vua A-hi, dân sự, thành, và xứ của người.

。」

nǐ zěn yàng dài yē lì gē hé yē lì gē de wáng , yě dāng zhào yàng dài ài chéng hé ài chéng de wáng 。 zhǐ shì chéng nèi suǒ duó de cái wù hé shēng chù , nǐ men kě yǐ qǔ wèi zì jǐ de lüè wù 。 nǐ yào zài chéng hòu shè xià fú bīng 。」

Ngươi phải đãi A-hi và vua nó như ngươi đã đãi Giê-ri-cô và vua nó; nhưng các ngươi sẽ đoạt lấy hóa tài và súc vật cho mình. Hãy phục binh sau thành.

yú shì , yuē shū yà hé yí qiè bīng dīng dōu qǐ lái , yào shàng ài chéng qù 。 yuē shū yà xuǎn le sān wàn dà néng de yǒng shì , yè jiān dǎ fā tā men qián wǎng ,

Vậy, Giô-suê đứng dậy cùng các quân lính đặng lên đánh A-hi. Người chọn ba muôn người mạnh dạn, sai đi ban đêm,

:「

fēn fù tā men shuō :「 nǐ men yào zài chéng hòu mái fú , bù kě lí chéng tài yuǎn , dōu yào gè zì zhǔn bèi 。

và truyền lịnh này rằng: Hãy coi, các ngươi sẽ phục binh sau thành; chớ dang ra xa thành quá, hãy dàn cho sẵn.

wǒ yǔ wǒ suǒ dài lǐng de zhòng mín yào xiàng chéng qián wǎng 。 chéng lǐ de rén xiàng chū cì chū lái gōng jī wǒ men de shí hòu , wǒ men jiù zài tā men miàn qián táo pǎo ,

Còn ta với cả dân sự theo ta, sẽ đi gần lại thành. Khi chúng nó ra đón đánh chúng ta như lần trước, thì chúng ta sẽ chạy trốn trước mặt chúng nó.

:『。』

tā men bì chū lái zhuī gǎn wǒ men , zhí dào wǒ men yǐn yòu tā men lí kāi chéng ; yīn wèi tā men bì shuō :『 zhè xiē rén xiàng chū cì zài wǒ men miàn qián táo pǎo 。』 suǒ yǐ wǒ men yào zài tā men miàn qián táo pǎo ,

Chúng nó sẽ rượt theo chúng ta cho đến chừng chúng ta dụ chúng nó ra cách xa khỏi thành; vì họ nói rằng: Chúng nó chạy trốn ta như lần trước. Trong lúc chúng ta chạy trốn trước mặt chúng nó,

nǐ men jiù cóng mái fú de dì fāng qǐ lái , duó qǔ nà chéng , yīn wèi yē hé huá — nǐ men de shén bì bǎ chéng jiāo zài nǐ men shǒu lǐ 。

thì các ngươi sẽ ra khỏi nơi phục binh mà hãm lấy thành; Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi sẽ phó thành vào tay các ngươi.

。」

nǐ men duó le chéng yǐ hòu , jiù fàng huǒ shāo chéng , yào zhào yē hé huá de huà xíng 。 zhè shì wǒ fēn fù nǐ men de 。」

Khi các ngươi chiếm thành rồi, thì phải phóng hỏa nó; hãy làm theo lời của Đức Giê-hô-va. Hãy coi, này là lịnh ta truyền cho các ngươi.

西宿

yuē shū yà dǎ fā tā men qián wǎng , tā men jiù shàng mái fú de dì fāng qù , zhù zài bó tè lì hé ài chéng de zhōng jiān , jiù shì zài ài chéng de xī biān 。 zhè yè yuē shū yà què zài mín zhōng zhù sù 。

Vậy, Giô-suê sai các người đó đi; họ phục giữa khoảng Bê-tên và A-hi, về phía tây của A-hi; còn Giô-suê đêm đó ngủ tại giữa dân sự.

yuē shū yà qīng zǎo qǐ lái , diǎn qí bǎi xìng , tā hé yǐ sè liè de zhǎng lǎo zài bǎi xìng qián miàn shàng ài chéng qù 。

Kế ấy, Giô-suê dậy sớm, điểm dân sự; người cùng các trưởng lão đi lên trước mặt dân đến thành A-hi.

zhòng mín , jiù shì tā suǒ dài lǐng de bīng dīng , dōu shàng qù , xiàng qián zhí wǎng , lái dào chéng qián , zài ài chéng běi biān ān yíng 。 zài yuē shū yà hé ài chéng zhōng jiān yǒu yì shān gǔ 。

Hết thảy quân lính theo người đi lên đến gần trước mặt thành, và đóng trại về phía bắc A-hi: có cái trũng chạy dài giữa họ và thành A-hi.

使西

tā tiāo le yuē yǒu wǔ qiān rén , shǐ tā men mái fú zài bó tè lì hé ài chéng de zhōng jiān , jiù shì zài ài chéng de xī biān ,

Giô-suê bèn đem chừng năm ngàn lính phục giữa khoảng Bê-tên và A-hi, về phía tây của thành.

西

yú shì ān zhì le bǎi xìng , jiù shì chéng běi de quán jūn hé chéng xī de fú bīng 。 zhè yè yuē shū yà jìn rù shān gǔ zhī zhōng 。

Khi dân sự đã đóng trại nơi phía bắc của thành, và phục binh về phía tây rồi, thì đêm đó Giô-suê đi xớm tới trong trũng.

ài chéng de wáng kàn jiàn zhè jǐng kuàng , jiù hé quán chéng de rén , qīng zǎo jí máng qǐ lái , àn suǒ dìng de shí hòu , chū dào yà lā bā qián , yào yǔ yǐ sè liè rén jiāo zhàn ; wáng què bù zhī dào zài chéng hòu yǒu fú bīng 。

Vua thành ấy vừa thấy điều đó, người ta bèn lật đật dậy sớm, vua và cả dân sự người đều đi ra đón Y-sơ-ra-ên tại nơi đã chỉ bảo, về phía đồng bằng, đặng giao chiến; song vua không biết rằng có một đạo binh phục ở phía sau thành.

yuē shū yà hé yǐ sè liè zhòng rén zài tā men miàn qián zhuāng bài , wǎng nà tōng kuàng yě de lù táo pǎo 。

Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên để cho chúng nó đánh bại mình, và chạy trốn về phía đồng vắng.

chéng nèi de zhòng mín dōu bèi zhāo jù , zhuī gǎn tā men ; ài chéng rén zhuī gǎn de shí hòu , jiù bèi yǐn yòu lí kāi chéng 。

Hết thảy dân sự trong thành đều hiệp lại đặng đuổi theo. Vậy chúng rượt theo Giô-suê và bị dụ cách xa khỏi thành;

ài chéng hé bó tè lì chéng méi yǒu yì rén bù chū lái zhuī gǎn yǐ sè liè rén de , piě le chǎng kāi de chéng mén , qù zhuī gǎn yǐ sè liè rén 。

chẳng có một ai ở thành A-hi hay là ở Bê-tên mà không ra đuổi theo Y-sơ-ra-ên; họ bỏ thành trống không để đuổi theo Y-sơ-ra-ên.

:「。」

yē hé huá fēn fù yuē shū yà shuō :「 nǐ xiàng ài chéng shēn chū shǒu lǐ de duǎn qiāng , yīn wèi wǒ yào jiāng chéng jiāo zài nǐ shǒu lǐ 。」 yuē shū yà jiù xiàng chéng shēn chū shǒu lǐ de duǎn qiāng 。

Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-suê rằng: Hãy giơ giáo ngươi cầm nơi tay ra về hướng thành A-hi, vì ta sẽ phó thành vào tay ngươi. Giô-suê bèn giơ giáo mình cầm nơi tay ra về hướng thành.

tā yì shēn shǒu , fú bīng jiù cóng mái fú de dì fāng jí máng qǐ lái , duó le chéng , pǎo jìn chéng qù , fàng huǒ fén shāo 。

Vừa giơ tay lên, binh phục lập tức đứng dậy khỏi chỗ mình núp mà chạy vào thành, chiếm lấy và phóng hỏa nó.

便

ài chéng de rén huí tóu yí kàn , bú liào , chéng zhōng yān qì chōng tiān , tā men jiù wú lì xiàng zuǒ xiàng yòu táo pǎo 。 nà wǎng kuàng yě táo pǎo de bǎi xìng biàn zhuǎn shēn gōng jī zhuī gǎn tā men de rén 。

Người thành A-hi quay lại, nhìn thấy khói đốt thành bay lên trời; họ chẳng một phương thế nào đặng trốn về phía này hay là phía kia. Vả, dân sự chạy trốn về phía đồng vắng trở lộn lại đánh những kẻ rượt đuổi theo mình.

yuē shū yà hé yǐ sè liè zhòng rén jiàn fú bīng yǐ jīng duó le chéng , chéng zhōng yān qì fēi téng , jiù zhuǎn shēn huí qù , jī shā ài chéng de rén 。

Khi Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên thấy binh phục đã lấy thành, và khói đốt thành bay lên, bèn trở về đánh người A-hi.

fú bīng yě chū chéng yíng jī ài chéng rén , ài chéng rén jiù kùn zài yǐ sè liè rén zhōng jiān , qián hòu dōu shì yǐ sè liè rén 。 yú shì yǐ sè liè rén jī shā tā men , méi yǒu liú xià yí gè , yě méi yǒu yí gè táo tuō de ,

Các binh khác cũng ra khỏi thành đón đánh dân A-hi; như vậy chúng nó bị dân Y-sơ-ra-ên vây phủ, bên này có đạo này, bên kia có quân kia. Người ta đánh chúng nó đến đỗi không còn để lại kẻ nào sống hay là cho ai thoát được.

shēng qín le ài chéng de wáng , jiāng tā jiě dào yuē shū yà nà lǐ 。

Binh bắt sống vua A-hi, và dẫn đến cùng Giô-suê.

yǐ sè liè rén zài tián jiān hé kuàng yě shā jìn suǒ zhuī gǎn yí qiè ài chéng de jū mín 。 ài chéng rén dǎo zài dāo xià , zhí dào miè jìn ; yǐ sè liè zhòng rén jiù huí dào ài chéng , yòng dāo shā le chéng zhōng de rén 。

Khi dân Y-sơ-ra-ên đã giết xong hết thảy người thành A-hi, hoặc trong đồng ruộng hay là trong đồng vắng, là nơi chúng nó bị đuổi theo, và khi hết thảy, đến đỗi người chót, đã ngã rạp dưới lưỡi gươm rồi, thì dân Y-sơ-ra-ên trở về A-hi và giết bằng lưỡi gươm những kẻ còn ở tại đó.

dāng rì shā bì de rén , lián nán dài nǚ gòng yǒu yí wàn èr qiān , jiù shì ài chéng suǒ yǒu de rén 。

Trong ngày đó, hết thảy người A-hi, nam và nữ, đều bị ngã chết, số là mười hai ngàn người.

yuē shū yà méi yǒu shōu huí shǒu lǐ suǒ shēn chū lái de duǎn qiāng , zhí dào bǎ ài chéng de yí qiè jū mín jìn xíng shā miè 。

Giô-suê chẳng rút lại tay mình đã cầm giơ thẳng ra với cây giáo, cho đến chừng nào người ta đã diệt hết thảy người thành A-hi.

wéi dú chéng zhōng de shēng chù hé cái wù , yǐ sè liè rén dōu qǔ wèi zì jǐ de lüè wù , shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù yuē shū yà de huà 。

Song dân Y-sơ-ra-ên cướp cho mình những súc vật và hóa tài của thành này, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Giô-suê.

使

yuē shū yà jiāng ài chéng fén shāo , shǐ chéng yǒng wèi gāo duī 、 huāng chǎng , zhí dào jīn rì ;

Vậy, Giô-suê phóng hỏa thành A-hi, và làm cho nó ra một đống hư tàn đời đời, y như hãy còn đến ngày nay.

yòu jiāng ài chéng wáng guà zài shù shàng , zhí dào wǎn shàng 。 rì luò de shí hòu , yuē shū yà fēn fù rén bǎ shī shǒu cóng shù shàng qǔ xià lái , diū zài chéng mén kǒu , zài shī shǒu shàng duī chéng yí dà duī shí tou , zhí cún dào jīn rì 。

Người biểu treo vua A-hi lên trên một cây và để đó cho đến chiều; nhưng khi mặt trời lặn, Giô-suê biểu người ta hạ thây xuống khỏi cây. Người ta đem liệng thây đó nơi cửa thành, và chất lên trên một đống đá lớn, hãy còn đến ngày nay.

nà shí , yuē shū yà zài yǐ bā lù shān shàng wèi yē hé huá — yǐ sè liè de shén zhù yí zuò tán ,

Bấy giờ, Giô-suê lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên tại trên núi Ê-banh,

西西

shì yòng méi yǒu dòng guò tiě qì de zhěng shí tou zhù de , zhào zhe yē hé huá pú rén mó xī suǒ fēn fù yǐ sè liè rén de huà , zhèng rú mó xī lǜ fǎ shū shàng suǒ xiě de 。 zhòng rén zài zhè tán shàng gěi yē hé huá fèng xiàn fán jì hé píng ān jì 。

y như Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã dặn biểu dân Y-sơ-ra-ên, và đã có chép trong sách luật pháp Môi-se: ấy là một bàn thờ bằng đá nguyên khối, sắt chưa đụng đến. ỳ đó dân sự dâng của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, và dâng của lễ thù ân.

西

yuē shū yà zài nà lǐ , dāng zhe yǐ sè liè rén miàn qián , jiāng mó xī suǒ xiě de lǜ fǎ chāo xiě zài shí tou shàng 。

Tại đó Giô-suê cũng khắc trên đá một bản luật pháp mà Môi-se đã chép trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.

西

yǐ sè liè zhòng rén , wú lùn shì běn dì rén 、 shì jì jū de , hé zhǎng lǎo 、 guān zhǎng , bìng shěn pàn guān , dōu zhàn zài yuē guì liǎng páng , zài tái yē hé huá yuē guì de jì sī lì wèi rén miàn qián , yí bàn duì zhe jī lì xīn shān , yí bàn duì zhe yǐ bā lù shān , wèi yǐ sè liè mín zhù fú , zhèng rú yē hé huá pú rén mó xī xiān qián suǒ fēn fù de 。

Cả Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão, các quan cai, và các quan xét đứng hai bên hòm trước mặt những thầy tế lễ, người Lê-vi, là người khiêng hòm giao ước ủa Đức Giê-hô-va. Những khách lạ luôn với dân Y-sơ-ra-ên đều có mặt tại đó, phân nửa này ở về phía núi Ga-ri-xim, và phân nửa kia ở về phía núi Ê-banh, tùy theo lịnh mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, trước đã truyền cho chúc phước dân Y-sơ-ra-ên.

suí hòu , yuē shū yà jiāng lǜ fǎ shàng zhù fú 、 zhòu zǔ de huà , zhào zhe lǜ fǎ shū shàng yí qiè suǒ xiě de , dōu xuān dú le yí biàn 。

Đoạn, Giô-suê đọc hết các lời luật pháp, sự chúc lành và sự chúc dữ, y như đã chép trong sách luật pháp.

西

mó xī suǒ fēn fù de yí qiè huà , yuē shū yà zài yǐ sè liè quán huì zhòng hé fù nǚ 、 hái zǐ , bìng tā men zhōng jiān jì jū de wài rén miàn qián , méi yǒu yí jù bù xuān dú de 。

Chẳng có lời nào về mọi điều Môi-se đã truyền dặng mà Giô-suê không đọc tại trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, trước mặt đàn bà, con nít, và khách lạ ở giữa họ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.