中文圣经

GIÔ-SUÊ 9

đã biết 0/256

西沿

yuē dàn hé xī , zhù shān dì 、 gāo yuán , bìng duì zhe lí bā nèn shān yán dà hǎi yí dài de zhū wáng , jiù shì hè rén 、 yà mó lì rén 、 jiā nán rén 、 bǐ lì xǐ rén 、 xī wèi rén 、 yē bù sī rén de zhū wáng , tīng jiàn zhè shì ,

Khi hay được việc này, hết thảy các vua ở bên này sông Giô-đanh, hoặc ở trong núi, dưới đồng bằng, hay là dọc bãi biển lớn đối ngang Li-ban, tức là các vua dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít,

jiù dōu jù jí , tóng xīn hé yì dì yào yǔ yuē shū yà hé yǐ sè liè rén zhēng zhàn 。

đều rập một ý hiệp với nhau đặng giao chiến với Giô-suê và Y-sơ-ra-ên.

jī biàn de jū mín tīng jiàn yuē shū yà xiàng yē lì gē hé ài chéng suǒ xíng de shì ,

Khi dân Ga-ba-ôn đã hay điều Giô-suê làm cho Giê-ri-cô và A-hi,

使

jiù shè guǐ jì , jiǎ chōng shǐ zhě , ná jiù kǒu dài hé pò liè féng bǔ de jiù pí jiǔ dài tuó zài lǘ shàng ,

bèn tính dùng mưu kế. Chúng nó giả bộ đi sứ, lấy bao cũ chất cho lừa mình, và bầu chứa rượu cũ rách vá lại,

穿穿

jiāng bǔ guò de jiù xié chuān zài jiǎo shàng , bǎ jiù yī fu chuān zài shēn shàng ; tā men suǒ dài de bǐng dōu shì gān de , cháng le méi le 。

dưới chân mang giày cũ vá, và trên mình quần áo cũ mòn; hết thảy bánh về lương bị họ đều khô và miếng vụn.

:「。」

tā men dào jí jiǎ yíng zhōng jiàn yuē shū yà , duì tā hé yǐ sè liè rén shuō :「 wǒ men shì cóng yuǎn fāng lái de , xiàn zài qiú nǐ yǔ wǒ men lì yuē 。」

Chúng nó đi đến gần Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, mà nói cùng người và dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chúng tôi ở xứ xa đến; vậy bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi.

:「?」

yǐ sè liè rén duì zhè xiē xī wèi rén shuō :「 zhǐ pà nǐ men shì zhù zài wǒ men zhōng jiān de ; ruò shì zhè yàng , zěn néng hé nǐ men lì yuē ne ?」

Dân Y-sơ-ra-ên đáp cùng dân Hê-vít rằng: Có lẽ các ngươi ở giữa chúng ta chăng; vậy làm thế nào lập giao ước đặng?

:「。」:「?」

tā men duì yuē shū yà shuō :「 wǒ men shì nǐ de pú rén 。」 yuē shū yà wèn tā men shuō :「 nǐ men shì shén me rén ? shì cóng nǎ lǐ lái de ?」

Nhưng chúng nó nói cùng Giô-suê rằng: Chúng tôi là tôi tớ của ông. Giô-suê hỏi: Các ngươi là ai, ở đâu đến?

:「

tā men huí dá shuō :「 pú rén cóng jí yuǎn zhī dì ér lái , shì yīn tīng jiàn yē hé huá — nǐ shén de míng shēng hé tā zài āi jí suǒ xíng de yí qiè shì ,

Đáp rằng: Tôi tớ của ông ở từ xứ rất xa đến để tôn trọng danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của ông; vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm trong xứ Ê-díp-tô;

西

bìng tā xiàng yuē dàn hé dōng de liǎng gè yà mó lì wáng , jiù shì xī shí běn wáng xī hóng hé zài yà sī tā lù de bā shān wáng è yí qiè suǒ xíng de shì 。

lại cũng nghe về mọi điều Ngài đã làm cho hai vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, là Si-hôn, vua Hết-bôn, và Oùc, vua Ba-san, ở tại Aùch-ta-rốt.

:『。』

wǒ men de zhǎng lǎo hé wǒ men nà dì de yí qiè jū mín duì wǒ men shuō :『 nǐ men shǒu lǐ yào dài zhe lù shang yòng de shí wù qù yíng jiē yǐ sè liè rén , duì tā men shuō : wǒ men shì nǐ men de pú rén ; xiàn zài qiú nǐ men yǔ wǒ men lì yuē 。』

Các trưởng lão và hết thảy dân sự ở xứ chúng tôi có nói cùng chúng tôi rằng: Hãy lấy lương thực dùng dọc đường, đi đến trước mặt dân đó, mà nói rằng: Chúng tôi là tôi tớ các ông; và bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi.

wǒ men chū lái yào wǎng nǐ men zhè lǐ lái de rì zi , cóng jiā lǐ dài chū lái de zhè bǐng hái shì rè de ; kàn nǎ , xiàn zài dōu gān le , cháng le méi le 。

Kìa, bánh của chúng tôi; ngày chúng tôi ra khỏi nhà đặng đi đến cùng các ông, chúng tôi lấy nó đem theo làm lương thực vẫn nóng hổi, mà ngày nay đã khô và bể vụn.

穿。」

zhè pí jiǔ dài , wǒ men shèng jiǔ de shí hòu hái shì xīn de ; kàn nǎ , xiàn zài yǐ jīng pò liè 。 wǒ men zhè yī fu hé xié , yīn wèi dào lù shèn yuǎn , yě dōu chuān jiù le 。」

Những bầu rượu này chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh, kìa nay đã rách; còn quần áo và giày chúng tôi đã cũ mòn, bởi vì đi đường xa.

yǐ sè liè rén shòu le tā men xiē shí wù , bìng méi yǒu qiú wèn yē hé huá 。

Người Y-sơ-ra-ên bèn nhận lương thực chúng nó, không cầu hỏi Đức Giê-hô-va.

yú shì yuē shū yà yǔ tā men jiǎng hé , yǔ tā men lì yuē , róng tā men huó zhe ; huì zhòng de shǒu lǐng yě xiàng tā men qǐ shì 。

Giô-suê lập hòa cùng chúng nó, và kết ước cho chúng nó sống; rồi các trưởng lão của hội chúng bèn thề cùng chúng nó.

yǐ sè liè rén yǔ tā men lì yuē zhī hòu , guò le sān tiān cái tīng jiàn tā men shì jìn lín , zhù zài yǐ sè liè rén zhōng jiān de 。

Nhưng ba ngày sau khi đã lập giao ước cùng chúng nó, dân Y-sơ-ra-ên hay rằng các người này vốn lân cận mình, và ở tại giữa mình.

·

yǐ sè liè rén qǐ xíng , dì sān tiān dào le tā men de chéng yì , jiù shì jī biàn 、 jī fēi lā 、 bǐ lù 、 jī liè · yē lín 。

Dân Y-sơ-ra-ên lên đường, và ngày thứ ba đến thành chúng nó. Vả, các thành của chúng nó là Ga-ba-ôn, Kê-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át-Giê-a-rim.

yīn wèi huì zhòng de shǒu lǐng yǐ jīng zhǐ zhe yē hé huá — yǐ sè liè de shén xiàng tā men qǐ shì , suǒ yǐ yǐ sè liè rén bù jī shā tā men ; quán huì zhòng jiù xiàng shǒu lǐng fā yuàn yán 。

Dân Y-sơ-ra-ên không giao chiến cùng dân đó, vì cớ các trưởng lão của hội chúng đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; nhưng cả hội chúng lằm bằm cùng các quan trưởng.

:「

zhòng shǒu lǐng duì quán huì zhòng shuō :「 wǒ men yǐ jīng zhǐ zhe yē hé huá — yǐ sè liè de shén xiàng tā men qǐ shì , xiàn zài wǒ men bù néng hài tā men 。

Các quan trưởng bèn nói cùng cả hội chúng rằng: Chúng ta đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; vậy, từ bây giờ chúng ta không thế hại chúng nó được.

忿。」

wǒ men yào rú cǐ dài tā men , róng tā men huó zhe , miǎn de yǒu fèn nù yīn wǒ men suǒ qǐ de shì lín dào wǒ men shēn shàng 。」

Chúng ta phải đãi dân đó như vầy: Phải để cho chúng nó sống, hầu cho chớ vì cớ lời thề đã lập, mà chúng ta khiến cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên chúng ta.

:「。」

shǒu lǐng yòu duì huì zhòng shuō :「 yào róng tā men huó zhe 。」 yú shì tā men wèi quán huì zhòng zuò le pǐ chái tiāo shuǐ de rén , zhèng rú shǒu lǐng duì tā men suǒ shuō de huà 。

Vậy, các quan trưởng tỏ rằng chúng nó được sống, nhưng phải bị dùng để đốn củi xách nước cho cả hội chúng, y như các quan trưởng đã nói cùng chúng nó.

:「

yuē shū yà zhào le tā men lái , duì tā men shuō :「 wèi shén me qī hǒng wǒ men shuō 『 wǒ men lí nǐ men shèn yuǎn 』 ne ? qí shí nǐ men shì zhù zài wǒ men zhōng jiān 。

Giô-suê bèn gọi dân đó mà nói như vầy: Sao các ngươi đã gạt chúng ta, nói rằng: Chúng tôi ở rất xa các ông, té ra các ngươi ở giữa chúng ta?

殿。」

xiàn zài nǐ men shì bèi zhòu zǔ de ! nǐ men zhōng jiān de rén bì duàn bù liǎo zuò nú pú , wèi wǒ shén de diàn zuò pǐ chái tiāo shuǐ de rén 。」

Vậy, bây giờ, các ngươi bị rủa sả, không dứt làm tôi mọi, cứ đốn củi và xách nước cho nhà của Đức Chúa Trời ta.

:「 西

tā men huí dá yuē shū yà shuō :「 yīn wèi yǒu rén shí zài gào sù nǐ de pú rén , yē hé huá — nǐ de shén céng fēn fù tā de pú rén mó xī , bǎ zhè quán dì cì gěi nǐ men , bìng zài nǐ men miàn qián miè jué zhè dì de yí qiè jū mín , suǒ yǐ wǒ men wèi nǐ men de yuán gù shèn pà sàng mìng , jiù xíng le zhè shì 。

Chúng nó bèn thưa cùng Giô-suê rằng: Aáy là điều kẻ tôi tớ ông có hay rõ ràng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán dặn Môi-se, tôi tớ Ngài, biểu ban toàn xứ cho các ông, và diệt hết thảy dân ở trước mặt mình: ấy vậy, chúng tôi vì cớ các ông lấy làm rất sợ hãi cho sự sống mình, nên mới làm như vậy.

!」

xiàn zài wǒ men zài nǐ shǒu zhōng , nǐ yǐ zěn yàng dài wǒ men wèi shàn wèi zhèng , jiù zěn yàng zuò ba !」

Bây giờ chúng tôi ở trong tay ông, hãy đãi chúng tôi tùy ý ông cho là tốt lành và công bình.

yú shì yuē shū yà zhè yàng dài tā men , jiù tā men tuō lí yǐ sè liè rén de shǒu , yǐ sè liè rén jiù méi yǒu shā tā men 。

Giô-suê bèn làm như người đã nói, và giải cứu chúng nó khỏi bị tay dân Y-sơ-ra-ên giết.

使

dāng rì yuē shū yà shǐ tā men zài yē hé huá suǒ yào xuǎn zé de dì fāng , wèi huì zhòng hé yē hé huá de tán zuò pǐ chái tiāo shuǐ de rén , zhí dào jīn rì 。

Trong ngày đó, người cắt chúng nó làm kẻ đốn củi và xách nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại trong nơi Ngài chọn lựa; ấy là điều dân đó hãy còn làm đến ngày nay.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.