中文圣经

LÊ-VI 10

đã biết 0/209

yà lún de ér zi ná dá 、 yà bǐ hù gè ná zì jǐ de xiāng lú , shèng shàng huǒ , jiā shàng xiāng , zài yē hé huá miàn qián xiàn shàng fán huǒ , shì yē hé huá méi yǒu fēn fù tā men de ,

Hai con trai A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương mình, để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là điều Ngài không phán dặn họ.

jiù yǒu huǒ cóng yē hé huá miàn qián chū lái , bǎ tā men shāo miè , tā men jiù sǐ zài yē hé huá miàn qián 。

Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.

西:「:『耀。』」

yú shì mó xī duì yà lún shuō :「 zhè jiù shì yē hé huá suǒ shuō :『 wǒ zài qīn jìn wǒ de rén zhōng yào xiǎn wèi shèng ; zài zhòng mín miàn qián , wǒ yào dé róng yào 。』」 yà lún jiù mò mò bù yán 。

Môi-se bèn nói cùng A-rôn rằng: Aáy là điều Đức Giê-hô-va đã tỏ ra khi Ngài phán rằng: Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần ta mà được tôn thánh và được vinh hiển trước mặt cả dân sự. A-rôn nín lặng.

西:「。」

mó xī zhào le yà lún shū fù wū xuē de ér zi mǐ shā lì 、 yǐ lì sā fǎn lái , duì tā men shuō :「 shàng qián lái , bǎ nǐ men de qīn shǔ cóng shèng suǒ qián tái dào yíng wài 。」

Môi-se gọi Mi-sa-ên và Eân-sa-phan, hai con trai của U-xi-ên, chú của A-rôn, mà dạy rằng: Hãy lại gần khiêng thây hai anh em các ngươi khỏi trước nơi thánh, đem ra ngoài trại quân.

穿西

yú shì èr rén shàng qián lái , bǎ tā men chuān zhe páo zǐ tái dào yíng wài , shì zhào mó xī suǒ fēn fù de 。

Vậy, họ đến gần khiêng thây còn mặc áo lá trong ra ngoài trại quân, y như lời Môi-se đã biểu.

西:「

mó xī duì yà lún hé tā ér zi yǐ lì yà sā 、 yǐ tā mǎ shuō :「 bù kě péng tóu sàn fā , yě bù kě sī liè yī shang , miǎn de nǐ men sǐ wáng , yòu miǎn de yē hé huá xiàng huì zhòng fā nù ; zhǐ yào nǐ men de dì xiong yǐ sè liè quán jiā wèi yē hé huá suǒ fā de huǒ āi kū 。

Đoạn, Môi-se nói cùng A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai người, mà rằng: Các ngươi chớ để đầu trần và chớ xé áo mình, e khi phải chết và Đức Giê-hô-va nổi giận cùng cả hội chúng chăng; nhưng anh em các ngươi, là cả nhà Y-sơ-ra-ên, phải nên khóc vì cớ lửa thiêu hóa mà Đức Giê-hô-va nổi phừng lên.

。」西

nǐ men yě bù kě chū huì mù de mén , kǒng pà nǐ men sǐ wáng , yīn wèi yē hé huá de gāo yóu zài nǐ men de shēn shàng 。」 tā men jiù zhào mó xī de huà xíng le 。

Đừng ra khỏi cửa hội mạc, e các ngươi phải chết chăng; vì dầu xức của Đức Giê-hô-va ở trên các ngươi. Họ bèn làm theo lời Môi-se.

yē hé huá xiǎo yù yà lún shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng:

「 nǐ hé nǐ ér zi jìn huì mù de shí hòu , qīng jiǔ 、 nóng jiǔ dōu bù kě hē , miǎn de nǐ men sǐ wáng ; zhè yào zuò nǐ men shì shì dài dài yǒng yuǎn de dìng lì 。

Khi nào vào hội mạc, ngươi và các con trai ngươi chớ nên uống rượu hay là uống vật chi có tánh say, e phải chết chăng: ấy là một mạng lịnh đời đời, trải các thế đại,

使

shǐ nǐ men kě yǐ jiāng shèng de 、 sú de , jié jìng de 、 bù jié jìng de , fēn bié chū lái ;

hầu cho các ngươi được phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết,

使西。」

yòu shǐ nǐ men kě yǐ jiāng yē hé huá jiè mó xī xiǎo yù yǐ sè liè rén de yí qiè lǜ lì jiào xùn tā men 。」

và dạy dân Y-sơ-ra-ên các mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dặn cho.

西:「

mó xī duì yà lún hé tā shèng xià de ér zi yǐ lì yà sā 、 yǐ tā mǎ shuō :「 nǐ men xiàn gěi yē hé huá huǒ jì zhōng suǒ shèng de sù jì , yào zài tán páng bú dài jiào ér chī , yīn wèi shì zhì shèng de 。

Môi-se nói cùng A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, là hai con trai A-rôn còn lại, mà rằng: Hãy lấy của lễ chay còn dư lại về của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, và hãy ăn đi không pha men, gần bàn thờ, vì là một vật chí thánh.

nǐ men yào zài shèng chù chī ; yīn wèi zài xiàn gěi yē hé huá de huǒ jì zhōng , zhè shì nǐ de fēn hé nǐ ér zi de fēn ; suǒ fēn fù wǒ de běn shì zhè yàng 。

Phải ăn của lễ nầy tại nơi thánh, vì là phần của ngươi và của các con trai ngươi trong những của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; bởi vì đã phán dặn ta làm như vậy.

suǒ yáo de xiōng , suǒ jǔ de tuǐ , nǐ men yào zài jié jìng dì fāng chī 。 nǐ hé nǐ de ér nǚ dōu yào tóng chī ; yīn wèi zhè xiē shì cóng yǐ sè liè rén píng ān jì zhōng gěi nǐ , dāng nǐ de fēn hé nǐ ér zi de fēn 。

Còn cái o dâng đưa qua đưa lại, và cái giò dâng giơ lên, ngươi, các con trai và các con gái ngươi hãy ăn tại một nơi tinh sạch, vì các điều đó đã ban cho làm phần riêng của ngươi và của các con trai ngươi, do những của lễ thù ân của dân Y-sơ-ra-ên.

。」

suǒ jǔ de tuǐ , suǒ yáo de xiōng , tā men yào yǔ huǒ jì de zhī yóu yì tóng dài lái dāng yáo jì , zài yē hé huá miàn qián yáo yi yáo ; zhè yào guī nǐ hé nǐ ér zi , dàng zuò yǒng dé de fēn , dōu shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù de 。」

Họ sẽ đem đến cái giò dâng giơ lên và cái o dâng đưa qua đưa lại với những mỡ định thiêu hóa, để dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Những điều đó sẽ thuộc về ngươi và các con trai ngươi chiếu theo luật lệ đời đời, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn vậy.

西便

dāng xià mó xī jí qiè dì xún zhǎo zuò shú zuì jì de gōng shān yáng , shuí zhī yǐ jīng fén shāo le , biàn xiàng yà lún shèng xià de ér zi yǐ lì yà sā 、 yǐ tā mǎ fā nù , shuō :

Vả, Môi-se tìm con dê đực dùng làm của lễ chuộc tội, thấy nó đã bị thiêu, bèn nổi giận cùng Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai A-rôn còn lại và nói rằng:

「 zhè shú zuì jì jì shì zhì shèng de , zhǔ yòu gěi le nǐ men , wèi yào nǐ men dān dāng huì zhòng de zuì niè , zài yē hé huá miàn qián wèi tā men shú zuì , nǐ men wèi hé méi yǒu zài shèng suǒ chī ne ?

Sao các ngươi không ăn thịt con sinh tế chuộc tội trong nơi thánh? Vì là một vật chí thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi, hầu gánh lấy tội của hội chúng, và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.

。」

kàn nǎ , zhè jì shēng de xuè bìng méi yǒu ná dào shèng suǒ lǐ qù , nǐ men běn dāng zhào wǒ suǒ fēn fù de , zài shèng suǒ lǐ chī zhè jì ròu 。」

Nầy, huyết nó không có đem vào trong nơi thánh; quả đáng các ngươi ăn sinh lễ trong nơi thánh, y như lời ta đã dặn biểu.

西:「?」

yà lún duì mó xī shuō :「 jīn tiān tā men zài yē hé huá miàn qián xiàn shàng shú zuì jì hé fán jì , wǒ yòu yù jiàn zhè yàng de zāi , ruò jīn tiān chī le shú zuì jì , yē hé huá qǐ néng kàn wèi měi ne ?」

Nhưng A-rôn đáp rằng: Kìa, ngày nay họ đã dâng của lễ chuộc tội và của lễ thiêu của mình trước mặt Đức Giê-hô-va; và sau khi việc rủi nầy xảy ra, nếu lại ngày nay tôi ăn của lễ chuộc tội, há có đẹp lòng Đức Giê-hô-va chăng?

西便

mó xī tīng jiàn zhè huà , biàn yǐ wéi měi 。

Môi-se nghe lời đáp ấy, bèn nhận cho phải.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.