中文圣经

LÊ-VI 9

đã biết 0/157

西

dào le dì bā tiān , mó xī zhào le yà lún hé tā ér zi , bìng yǐ sè liè de zhòng zhǎng lǎo lái ,

Qua ngày thứ tám, Môi-se gọi A-rôn và các con trai người cùng những trưởng lão của Y-sơ-ra-ên,

:「

duì yà lún shuō :「 nǐ dāng qǔ niú qún zhōng de yì zhī gōng niú dú zuò shú zuì jì , yì zhī gōng mián yáng zuò fán jì , dōu yào méi yǒu cán jí de , xiàn zài yē hé huá miàn qián 。

rồi dạy A-rôn rằng: Hãy bắt một con bò con đực đặng làm của lễ chuộc tội, một con chiên đực làm của lễ thiêu, đều không tì vít chi, và dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va.

:『

nǐ yě yào duì yǐ sè liè rén shuō :『 nǐ men dāng qǔ yì zhī gōng shān yáng zuò shú zuì jì , yòu qǔ yì zhī niú dú hé yì zhī mián yáng gāo , dōu yào yí suì 、 méi yǒu cán jí de , zuò fán jì ,

Ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy bắt một con dê đực làm của lễ chuộc tội, một con bò con và một con chiên con không tì vít chi, một tuổi, đặng dùng làm của lễ thiêu,

。』」

yòu qǔ yì zhī gōng niú , yì zhī gōng mián yáng zuò píng ān jì , xiàn zài yē hé huá miàn qián , bìng qǔ tiáo yóu de sù jì , yīn wèi jīn tiān yē hé huá yào xiàng nǐ men xiǎn xiàn 。』」

một con bò tơ, một con chiên đực đặng dùng làm của lễ thù ân, để dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va, và một của lễ chay chế dầu; vì ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng các ngươi.

西

yú shì tā men bǎ mó xī suǒ fēn fù de , dài dào huì mù qián ; quán huì zhòng dōu jìn qián lái , zhàn zài yē hé huá miàn qián 。

Vậy, họ dẫn đến trước hội mạc những vật Môi-se đã dặn biểu; rồi cả hội chúng đến gần đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.

西:「。」

mó xī shuō :「 zhè shì yē hé huá fēn fù nǐ men suǒ dāng xíng de ; yē hé huá de róng guāng jiù yào xiàng nǐ men xiǎn xiàn 。」

Môi-se nói rằng: Đây là các điều Đức Giê-hô-va phán dặn; hãy làm đi, thì sự vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng các ngươi.

西:「。」

mó xī duì yà lún shuō :「 nǐ jiù jìn tán qián , xiàn nǐ de shú zuì jì hé fán jì , wèi zì jǐ yǔ bǎi xìng shú zuì , yòu xiàn shàng bǎi xìng de gòng wù , wèi tā men shú zuì , dōu zhào yē hé huá suǒ fēn fù de 。」

Đoạn, Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Ngươi hãy đến gần bàn thờ dâng của lễ chuộc tội và của lễ thiêu của ngươi đi, để vì ngươi và vì dân sự làm lễ chuộc tội; lại cũng hãy dâng của lễ của dân sự và làm lễ chuộc tội cho họ, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn vậy.

yú shì , yà lún jiù jìn tán qián , zǎi le wèi zì jǐ zuò shú zuì jì de niú dú 。

A-rôn bèn lại gần bàn thờ, giết bò con đực dùng làm của lễ chuộc tội.

yà lún de ér zi bǎ xuè fèng gěi tā , tā jiù bǎ zhǐ tóu zhàn zài xuè zhōng , mǒ zài tán de sì jiǎo shàng , yòu bǎ xuè dǎo zài tán jiǎo nà lǐ 。

Các con trai người đem huyết đến; người nhúng ngón tay vào, bôi trên các sừng bàn thờ, rồi đổ huyết dưới chân bàn thờ.

西

wéi yǒu shú zuì jì de zhī yóu hé yāo zǐ , bìng gān shàng qǔ de wǎng zǐ , dōu shāo zài tán shàng , shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de ;

Người lấy đem xông trên bàn thờ mỡ, hai trái cật và tấm da mỏng bọc gan của con sinh tế chuộc tội, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

yòu yòng huǒ jiāng ròu hé pí shāo zài yíng wài 。

Còn thịt và da, người đem ra thiêu ngoài trại quân.

yà lún zǎi le fán jì shēng , tā ér zi bǎ xuè dì gěi tā , tā jiù sǎ zài tán de zhōu wéi ,

Đoạn, người giết con sinh dùng làm của lễ thiêu. Các con trai A-rôn đem huyết đến, người rưới chung quanh trên bàn thờ.

yòu bǎ fán jì yí kuài yi kuài dì 、 lián tóu dì gěi tā , tā dōu shāo zài tán shàng ;

Họ cũng đem cho A-rôn thịt của lễ thiêu sả ra từ miếng và đầu, rồi người xông hết trên bàn thờ.

yòu xǐ le zāng fǔ hé tuǐ , shāo zài tán shàng de fán jì shàng 。

Đoạn, người rửa bộ lòng và các giò, đem xông trên của lễ thiêu nơi bàn thờ.

tā fèng shàng bǎi xìng de gòng wù , bǎ nà gěi bǎi xìng zuò shú zuì jì de gōng shān yáng zǎi le , wèi zuì xiàn shàng , hé xiān xiàn de yí yàng ;

Người cũng dâng của lễ của dân sự; bắt con dê đực dùng làm của lễ chuộc tội cho dân sự, giết nó và dâng lên đặng chuộc tội, y như của lễ đầu tiên;

yě fèng shàng fán jì , zhào lì ér xiàn 。

lại người cũng dâng của lễ thiêu theo luật lệ đã định.

tā yòu fèng shàng sù jì , cóng qí zhōng qǔ yì mǎn bǎ , shāo zài tán shàng ; zhè shì zài zǎo chén de fán jì yǐ wài 。

Kế đó, người dâng của lễ chay, trút đầy bụm tay mình đem xông trên bàn thờ, ngoại trừ của lễ thiêu hồi ban mai.

yà lún zǎi le nà gěi bǎi xìng zuò píng ān jì de gōng niú hé gōng mián yáng 。 tā ér zi bǎ xuè dì gěi tā , tā jiù sǎ zài tán de zhōu wéi ;

Người cũng vì dân sự giết con bò tơ và con chiên đực làm của lễ thù ân. Các con trai A-rôn đem huyết đến, và người rưới chung quanh trên bàn thờ.

yòu bǎ gōng niú hé gōng mián yáng de zhī yóu 、 féi wěi bā , bìng gài zāng de zhī yóu yǔ yāo zǐ , hé gān shàng de wǎng zǐ , dōu dì gěi tā ;

Họ cũng đem đến cho người mỡ của con bò tơ và con chiên đực, đuôi, mỡ trên bộ lòng, hai trái cật, và tấm da mỏng bọc gan;

bǎ zhī yóu fàng zài xiōng shàng , tā jiù bǎ zhī yóu shāo zài tán shàng 。

để những mỡ nầy trên o, rồi xông mỡ nơi bàn thờ.

西

xiōng hé yòu tuǐ , yà lún dāng zuò yáo jì , zài yē hé huá miàn qián yáo yi yáo , dōu shì zhào mó xī suǒ fēn fù de 。

Đoạn, A-rôn lấy cái o và giò hữu đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, y như Môi-se đã dặn biểu.

yà lún xiàng bǎi xìng jǔ shǒu , wèi tā men zhù fú 。 tā xiàn le shú zuì jì 、 fán jì 、 píng ān jì jiù xià lái le 。

A-rôn giơ tay mình trên dân sự chúc phước cho; sau khi dâng của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, và của lễ thù ân, thì người bước xuống khỏi bàn thờ.

西

mó xī 、 yà lún jìn rù huì mù , yòu chū lái wèi bǎi xìng zhù fú , yē hé huá de róng guāng jiù xiàng zhòng mín xiǎn xiàn 。

Môi-se và A-rôn bèn vào hội mạc, kế lại ra chúc phước cho dân sự; sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng cả dân sự:

yǒu huǒ cóng yē hé huá miàn qián chū lái , zài tán shàng shāo jìn fán jì hé zhī yóu ; zhòng mín yí jiàn , jiù dōu huān hū , fǔ fú zài dì 。

một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa của lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ. Cả dân sự thấy, đều cất tiếng reo mừng và sấp mặt xuống đất.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.