中文圣经

LÊ-VI 24

đã biết 0/179

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

使

「 yào fēn fù yǐ sè liè rén , bǎ nà wèi diǎn dēng dǎo chéng de qīng gǎn lǎn yóu ná lái gěi nǐ , shǐ dēng cháng cháng diǎn zháo 。

Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem dầu ô-li-ve ép, trong sạch, đặng thắp đèn, để giữ cho đèn cháy luôn luôn.

zài huì mù zhōng fǎ guì de màn zǐ wài , yà lún cóng wǎn shàng dào zǎo chén bì zài yē hé huá miàn qián jīng lǐ zhè dēng 。 zhè yào zuò nǐ men shì shì dài dài yǒng yuǎn de dìng lì 。

A-rôn sẽ làm đèn đó trong hội mạc, ngoài bức màn che hòm bảng chứng, hầu cho đèn cháy luôn luôn, từ chiều tối đến sáng mai, trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi.

。」

tā yào zài yē hé huá miàn qián cháng shōu shí jīng jīn dēng tái shàng de dēng 。」

A-rôn sẽ để các đèn trên chân đèn bằng vàng, cho đèn cháy luôn luôn trước mặt Đức Giê-hô-va.

「 nǐ yào qǔ xì miàn , kǎo chéng shí èr gè bǐng , měi bǐng yòng miàn yī fǎ shí fēn zhī èr 。

Ngươi cũng phải lấy bột lọc, hấp mười hai ổ bánh; mỗi ổ cân nặng hai phần mười ê-pha;

yào bǎ bǐng bǎi liè liǎng háng , měi xíng liù gè , zài yē hé huá miàn qián jīng jīn de zhuō zi shàng ;

đoạn sắp ra hai hàng sáu ổ trên cái bàn bằng vàng ròng trước mặt Đức Giê-hô-va,

yòu yào bǎ jìng rǔ xiāng fàng zài měi xíng bǐng shàng , zuò wéi jì niàn , jiù shì zuò wéi huǒ jì xiàn gěi yē hé huá 。

cùng rắc nhũ hương thánh trên mỗi hàng, để làm kỷ niệm trên bánh, như một của lễ dùng lửa dâng trước mặt Đức Giê-hô-va.

měi ān xī rì yào cháng bǎi zài yē hé huá miàn qián ; zhè wèi yǐ sè liè rén zuò yǒng yuǎn de yuē 。

Mỗi ngày sa-bát, người ta sẽ sắp bánh nầy trước mặt Đức Giê-hô-va luôn luôn, do nơi dân Y-sơ-ra-ên cung cấp; ấy là một giao ước đời đời.

。」

zhè bǐng shì yào gěi yà lún hé tā zǐ sūn de ; tā men yào zài shèng chù chī , wèi yǒng yuǎn de dìng lì , yīn wèi zài xiàn gěi yē hé huá de huǒ jì zhōng shì zhì shèng de 。」

Các bánh đó sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người; họ phải ăn tại một nơi thánh, vì là vật chí thánh cho họ, bởi các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Aáy là một lệ định đời đời.

yǒu yí gè yǐ sè liè fù rén de ér zi , tā fù qīn shì āi jí rén , yí rì xián yóu zài yǐ sè liè rén zhōng 。 zhè yǐ sè liè fù rén de ér zi hé yí gè yǐ sè liè rén zài yíng lǐ zhēng dòu 。

Có một đứa con trai, mẹ là người Y-sơ-ra-ên, và cha là người Ê-díp-tô, đi ra giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên, đánh lộn tại nơi trại quân với một người Y-sơ-ra-ên.

西。(。)

zhè yǐ sè liè fù rén de ér zi xiè dú le shèng míng , bìng qiě zhòu zǔ , jiù yǒu rén bǎ tā sòng dào mó xī nà lǐ 。( tā mǔ qīn míng jiào shì luó mì , shì dàn zhī pài dǐ bó lì de nǚ ér 。)

Đứa trai đó nói phạm đến và rủa sả danh Đức Giê-hô-va; người ta dẫn nó đến Môi-se, bèn giam nó vào ngục cho đến chừng Đức Giê-hô-va phán định phải xử làm sao.

tā men bǎ nà rén shōu zài jiān lǐ , yào dé yē hé huá suǒ zhǐ shì de huà 。

Mẹ nó tên là Sê-lô-mít, con gái của Điệp-ri, thuộc về chi phái Đan.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Vả, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:

「 bǎ nà zhòu zǔ shèng míng de rén dài dào yíng wài 。 jiào tīng jiàn de rén dōu fàng shǒu zài tā tóu shàng ; quán huì zhòng jiù yào yòng shí tou dǎ sǐ tā 。

Hãy đem kẻ đã rủa sả ra ngoài trại quân, hết thảy ai đã có nghe nó phải đặt tay mình trên đầu nó, và cả hội chúng phải ném đá nó.

nǐ yào xiǎo yù yǐ sè liè rén shuō : fán zhòu zǔ shén de , bì dān dāng tā de zuì 。

Đoạn hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào rủa sả Đức Chúa Trời mình sẽ mang sự hình phạt của tội mình.

nà xiè dú yē hé huá míng de , bì bèi zhì sǐ ; quán huì zhòng zǒng yào yòng shí tou dǎ sǐ tā 。 bù guǎn shì jì jū de shì běn dì rén , tā xiè dú yē hé huá míng de shí hòu , bì bèi zhì sǐ 。

Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.

dǎ sǐ rén de , bì bèi zhì sǐ ;

Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.

dǎ sǐ shēng chù de , bì péi shàng shēng chù , yǐ mìng cháng mìng 。

Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.

使

rén ruò shǐ tā lín shè de shēn tǐ yǒu cán jí , tā zěn yàng xíng , yě yào zhào yàng xiàng tā xíng :

Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đã làm:

yǐ shāng hái shāng , yǐ yǎn huán yǎn , yǐ yá hái yá 。 tā zěn yàng jiào rén de shēn tǐ yǒu cán jí , yě yào zhào yàng xiàng tā xíng 。

gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít như chính người đã làm cho người khác.

dǎ sǐ shēng chù de , bì péi shàng shēng chù ; dǎ sǐ rén de , bì bèi zhì sǐ 。

Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.

。」

bù guǎn shì jì jū de shì běn dì rén , tóng guī yī lì 。 wǒ shì yē hé huá — nǐ men de shén 。」

Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lễ: vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.

西西

yú shì , mó xī xiǎo yù yǐ sè liè rén , tā men jiù bǎ nà zhòu zǔ shèng míng de rén dài dào yíng wài , yòng shí tou dǎ sǐ 。 yǐ sè liè rén jiù zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de xíng le 。

Vậy, Môi-se nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên, biểu đem kẻ đã rủa sả ra khỏi trại quân rồi ném đá nó. Thế thì, dân Y-sơ-ra-ên làm y như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn Môi-se.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.