中文圣经

LÊ-VI 6

đã biết 0/241

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

「 ruò yǒu rén fàn zuì , gān fàn yē hé huá , zài lín shè jiāo fù tā de wù shàng , huò shì zài jiāo yì shàng xíng le guǐ zhà , huò shì qiǎng duó rén de cái wù , huò shì qī yā lín shè ,

Khi nào ai mắc tội phạm đến Đức Giê-hô-va, hoặc nói dối cùng người lân cận mình về đồ vật gởi hay là tin mà giao cho, hoặc về một tài vật trộm cắp, hoặc giựt lấy của người lân cận mình;

huò shì zài jiǎn le yí shī de wù shàng xíng le guǐ zhà , shuō huǎng qǐ shì , zài zhè yí qiè de shì shàng fàn le shén me zuì ;

hoặc nếu xí được một của mất mà nói dối về của đó, hoặc thề dối về một trong các việc người ta phạm tội được;

tā jì fàn le zuì , yǒu le guò fàn , jiù yào guī huán tā suǒ qiǎng duó de , huò shì yīn qī yā suǒ dé de , huò shì rén jiāo fù tā de , huò shì rén yí shī tā suǒ jiǎn de wù ,

khi nào đã phạm và mắc lỗi như vậy, thì phải trả lại vật mình đã ăn cắp, hoặc vật đã giựt lấy, hoặc vật đã tin gởi cho, hoặc vật làm mất xí được,

huò shì tā yīn shén me wù qǐ le jiǎ shì , jiù yào rú shù guī huán , lìng wài jiā shàng wǔ fēn zhī yī , zài chá chū tā yǒu zuì de rì zi yào jiāo huán běn zhǔ 。

hoặc về các món người đã thề dối: người phải thường nguyên lại và phụ thêm một phần năm giá trị mà giao cho chủ vật đó ngày nào mình dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi.

yě yào zhào nǐ suǒ gū dìng de jià , bǎ shú qiān jì shēng — jiù shì yáng qún zhōng yì zhī méi yǒu cán jí de gōng mián yáng — qiān dào yē hé huá miàn qián , gěi jì sī wèi shú qiān jì 。

Tùy theo sự đánh giá của ngươi, người ấy phải bắt trong bầy một chiên đực không tì vít chi, dẫn đến thầy tế lễ mà dâng cho Đức Giê-hô-va đặng làm của lễ chuộc sự mắc lỗi mình;

使。」

jì sī yào zài yē hé huá miàn qián wèi tā shú zuì ; tā wú lùn xíng le shén me shì , shǐ tā yǒu le zuì , dōu bì méng shè miǎn 。」

thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va, thì lỗi người sẽ được tha, bất luận lỗi nào người đã mắc.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ yào fēn fù yà lún hé tā de zǐ sūn shuō , fán jì de tiáo lì nǎi shì zhè yàng : fán jì yào fàng zài tán de chái shàng , cóng wǎn shàng dào tiān liàng , tán shàng de huǒ yào cháng cháng shāo zhe 。

Hãy truyền lịnh nầy cho A-rôn cùng các con trai người: Nầy là luật về của lễ thiêu: Của lễ thiêu phải ở trên đống lửa tại bàn thờ trọn đêm cho đến sáng mai, và lửa của bàn thờ giữ cho cháy luôn.

穿穿

jì sī yào chuān shàng xì má bù yī fu , yòu yào bǎ xì má bù kù zǐ chuān zài shēn shàng , bǎ tán shàng suǒ shāo de fán jì huī shōu qǐ lái , dǎo zài tán de páng biān ;

Thầy tế lễ sẽ mặc áo lá trong và quần bằng vải gai che thân mình, rồi hốt tro của lửa đã đốt của lễ thiêu trên bàn thờ, và đổ gần bên bàn thờ;

穿

suí hòu yào tuō qù zhè yī fu , chuān shàng bié de yī fu , bǎ huī ná dào yíng wài jié jìng zhī chù 。

đoạn cổi áo nầy, mặc áo khác, đem tro nầy ra ngoài trại quân, đổ trong một nơi tinh sạch.

tán shàng de huǒ yào zài qí shàng cháng cháng shāo zhe , bù kě xī miè 。 jì sī yào měi rì zǎo chén zài shàng miàn shāo chái , bìng yào bǎ fán jì bǎi zài tán shàng , zài qí shàng shāo píng ān jì shēng de zhī yóu 。

Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn luôn, không nên tắt. Mỗi buổi sáng thầy tế lễ sẽ lấy củi chụm lửa thêm, sắp của lễ thiêu lên trên, và xông những mỡ về của lễ thù ân tại đó.

。」

zài tán shàng bì yǒu cháng cháng shāo zhe de huǒ , bù kě xī miè 。」

Lửa hằng cháy luôn luôn trên bàn thờ, chẳng nên tắt.

「 sù jì de tiáo lì nǎi shì zhè yàng : yà lún de zǐ sūn yào zài tán qián bǎ zhè jì xiàn zài yē hé huá miàn qián 。

Đây là luật về của lễ chay: Các con trai A-rôn phải dâng của lễ nầy tại phía trước bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va.

jì sī yào cóng qí zhōng — jiù shì cóng sù jì de xì miàn zhōng — qǔ chū zì jǐ de yì bǎ , yòu yào qǔ xiē yóu hé sù jì shàng suǒ yǒu de rǔ xiāng , shāo zài tán shàng , fèng gěi yē hé huá wèi xīn xiāng sù jì de jì niàn 。

Họ sẽ lấy một nắm bột lọc trong của lễ chay và dầu, cùng hết thảy nhũ hương ở trên, đem xông trên bàn thờ làm kỷ niệm về một của lễ có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

suǒ shèng xià de , yà lún hé tā zǐ sūn yào chī , bì zài shèng chù bú dài jiào ér chī , yào zài huì mù de yuàn zi lǐ chī 。

Phần còn dư lại, A-rôn và các con trai người sẽ ăn không pha men, tại một nơi thánh, tức là ăn tại hành lang của hội mạc.

kǎo de shí hòu bù kě chān jiào 。 zhè shì cóng suǒ xiàn gěi wǒ de huǒ jì zhōng cì gěi tā men de fēn , shì zhì shèng de , hé shú zuì jì bìng shú qiān jì yí yàng 。

Họ không nên nấu bột đó với men; ấy là phần ta cho họ do trong các của lễ ta, dùng lửa dâng lên; thật là một vật chí thánh như của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi.

。」

fán xiàn gěi yē hé huá de huǒ jì , yà lún zǐ sūn zhōng de nán dīng dōu yào chī zhè yì fēn , zhí dào wàn dài , zuò tā men yǒng dé de fēn 。 mō zhè xiē jì wù de , dōu yào chéng wéi shèng 。」

Phàm người nam trong vòng con cái A-rôn, sẽ ăn lấy; ấy là một luật lệ đời đời cho dòng dõi các ngươi về những của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va: ai đụng đến những của lễ đó sẽ nên thánh.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

「 dāng yà lún shòu gāo de rì zi , tā hé tā zǐ sūn suǒ yào xiàn gěi yē hé huá de gòng wù , jiù shì xì miàn yī fǎ shí fēn zhī yī , wèi cháng xiàn de sù jì : zǎo chén yí bàn , wǎn shàng yí bàn 。

Nầy là của lễ A-rôn và các con trai người phải dâng cho Đức Giê-hô-va trong ngày họ chịu phép xức dầu: Một phần mười ê-pha bột lọc làm của lễ chay thường thường; sáng một phân nửa, chiều một phân nửa.

yào zài tiě ào shàng yòng yóu tiáo hé zuò chéng , tiáo yún le , nǐ jiù ná jìn lái ; kǎo hǎo le fēn chéng kuài zǐ , xiàn gěi yē hé huá wèi xīn xiāng de sù jì 。

Của lễ đó sẽ chiên sẵn trên chảo trộn với dầu; chín rồi, ngươi phải đem đến cắt ra từ miếng sẵn dâng lên có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.

yà lún de zǐ sūn zhōng , jiē xù tā wèi shòu gāo de jì sī , yào bǎ zhè sù jì xiàn shàng , yào quán shāo gěi yē hé huá 。 zhè shì yǒng yuǎn de dìng lì 。

Con trai nào của A-rôn chịu xức dầu đặng thế cho người làm thầy tế lễ cũng phải dâng của lễ nầy. Aáy là một luật lệ đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va: họ phải xông hết trọn của lễ nầy.

。」

jì sī de sù jì dōu yào shāo le , què bù kě chī 。」

Phàm của lễ chay của thầy tế lễ nào thì phải đốt hết, không nên ăn.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ duì yà lún hé tā de zǐ sūn shuō , shú zuì jì de tiáo lì nǎi shì zhè yàng : yào zài yē hé huá miàn qián 、 zǎi fán jì shēng de dì fāng zǎi shú zuì jì shēng ; zhè shì zhì shèng de 。

Hãy truyền cho A-rôn và các con trai người rằng: Đây là luật về của lễ chuộc tội: Phải giết con sinh tế chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va tại nơi người ta giết con sinh về của lễ thiêu; ấy là một vật chí thánh.

wèi shú zuì xiàn zhè jì de jì sī yào chī , yào zài shèng chù , jiù shì zài huì mù de yuàn zi lǐ chī 。

Thầy tế lễ đứng dâng con sinh tế chuộc tội, phải ăn thịt nó trong một nơi thánh, tức là trong hành lang của hội mạc.

fán mō zhè jì ròu de yào chéng wéi shèng ; zhè jì shēng de xuè ruò tán zài shén me yī fu shàng , suǒ tán de nà yí jiàn yào zài shèng chù xǐ jìng 。

Hễ ai đụng đến thịt con sinh sẽ nên thánh, và nếu huyết nó văng trên áo nào, thì phải giặt áo đó trong một nơi thánh.

wéi yǒu zhǔ jì wù de wǎ qì yào dǎ suì ; ruò shì zhǔ zài tóng qì lǐ , zhè tóng qì yào cā mó , zài shuǐ zhōng shuàn jìng 。

Nồi đất dùng nấu thịt đó sẽ đập bể đi, nếu nồi nấu bằng đồng thì sẽ cạo và rửa nước cho sạch.

fán jì sī zhōng de nán dīng dōu kě yǐ chī ; zhè shì zhì shèng de 。

Hễ người nam trong vòng những thầy tế lễ sẽ ăn thịt đó: ấy là một vật chí thánh.

。」

fán shú zuì jì , ruò jiāng xuè dài jìn huì mù zài shèng suǒ shú zuì , nà ròu dōu bù kě chī , bì yòng huǒ fén shāo 。」

Nhưng chẳng nên ăn thịt con sinh tế chuộc tội có huyết nó đem vào hội mạc đặng làm lễ chuộc tội nơi đền thánh: hãy đốt nó đi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.