中文圣经

LU-CA 16

đã biết 0/281

:「

yē sū yòu duì mén tú shuō :「 yǒu yí gè cái zhǔ de guǎn jiā , bié rén xiàng tā zhǔ rén gào tā làng fèi zhǔ rén de cái wù 。

Đức Chúa Jêsus lại phán cùng môn đồ rằng: người giàu kia có một quản gia bị cáo với chủ rằng người tiêu phá của chủ.

:『。』

zhǔ rén jiào tā lái , duì tā shuō :『 wǒ tīng jiàn nǐ zhè shì zěn me yàng ne ? bǎ nǐ suǒ jīng guǎn de jiāo dài míng bái , yīn nǐ bù néng zài zuò wǒ de guǎn jiā 。』

Vậy, chủ đòi người đó mà nói rằng: Ta nghe nói về ngươi nỗi chi? Hãy khai ra việc quản trị của ngươi, vì từ nay ngươi không được cai quản gia tài ta nữa.

:『

nà guǎn jiā xīn lǐ shuō :『 zhǔ rén cí wǒ , bú yòng wǒ zài zuò guǎn jiā , wǒ jiāng lái zuò shén me ? chú dì ne ? wú lì ; tǎo fàn ne ? pà xiū 。

Người quản gia tự nghĩ rằng: Chủ cách chức ta, ta sẽ làm gì? Làm ruộng thì ta không có sức làm nổi, còn đi ăn mày thì hổ ngươi.

。』

wǒ zhī dào zěn me xíng , hǎo jiào rén zài wǒ bú zuò guǎn jiā zhī hòu , jiē wǒ dào tā men jiā lǐ qù 。』

Ta biết điều ta sẽ làm, để khi bị cách chức, có kẻ tiếp rước ta về nhà.

:『?』

yú shì bǎ qiàn tā zhǔ rén zhài de , yí gè yi gè dì jiào le lái , wèn tóu yí gè shuō :『 nǐ qiàn wǒ zhǔ rén duō shǎo ?』

Người ấy bèn gọi riêng từng người mắc nợ chủ mình đến, và hỏi người thứ nhất rằng: Ngươi mắc nợ chủ ta bao nhiêu?

:『 。』:『。』

tā shuō :『 yì bǎi lǒu yóu 。』 guǎn jiā shuō :『 ná nǐ de zhàng , kuài zuò xià , xiě wǔ shí 。』

Trả lời rằng: Một trăm thùng dầu. Quản gia nói rằng: Hãy cầm lấy tờ khế, ngồi xuống đó, viết mau: Năm chục.

:『?』:『。』:『。』

yòu wèn yí gè shuō :『 nǐ qiàn duō shǎo ?』 tā shuō :『 yì bǎi shí mài zi 。』 guǎn jiā shuō :『 ná nǐ de zhàng , xiě bā shí 。』

Rồi hỏi người kia rằng: Còn ngươi, mắc bao nhiêu? Trả lời rằng: Một trăm hộc lúa mì. Quản gia rằng: Hãy cầm lấy tờ khế và viết: Tám chục.

zhǔ rén jiù kuā jiǎng zhè bú yì de guǎn jiā zuò shì cōng míng ; yīn wèi jīn shì zhī zǐ , zài shì shì zhī shàng , jiào bǐ guāng míng zhī zǐ gèng jiā cōng ming 。

Chủ bèn khen quản gia bất nghĩa ấy về việc người đã làm khôn khéo như vậy. Vì con đời nầy trong việc thông công với người đồng đời mình thì khôn khéo hơn con sáng láng.

wǒ yòu gào sù nǐ men , yào jiè zhe nà bú yì de qián cái jié jiāo péng yǒu , dào le qián cái wú yòng de shí hòu , tā men kě yǐ jiē nǐ men dào yǒng cún de zhàng mù lǐ qù 。

Còn ta nói cho các ngươi: Hãy dùng của bất nghĩa mà kết bạn, để khi của ấy hết đi, họ tiếp các ngươi vào nhà đời đời.

rén zài zuì xiǎo de shì shàng zhōng xīn , zài dà shì shàng yě zhōng xīn ; zài zuì xiǎo de shì shàng bú yì , zài dà shì shàng yě bú yì 。

Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn.

tǎng ruò nǐ men zài bú yì de qián cái shàng bù zhōng xīn , shuí hái bǎ nà zhēn shí de qián cái tuō fù nǐ men ne ?

Vậy nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?

西西

tǎng ruò nǐ men zài bié rén de dōng xī shàng bù zhōng xīn , shuí hái bǎ nǐ men zì jǐ de dōng xī gěi nǐ men ne ?

Nếu các ngươi không trung tín về của người khác, ai sẽ cho các ngươi được của riêng mình?

。」

yí gè pú rén bù néng shì fèng liǎng gè zhǔ ; bú shì è zhè ge ài nà ge , jiù shì zhòng zhè ge qīng nà ge 。 nǐ men bù néng yòu shì fèng shén , yòu shì fèng mǎ mén 。」

Không có đầy tớ nào làm tôi hai chủ được; vì sẽ ghét chủ nầy mà yêu chủ kia, hay là hiệp với chủ nầy mà khinh dể chủ kia. Các ngươi không có thể đã làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Ma-môn nữa.

fǎ lì sài rén shì tān ài qián cái de ; tā men tīng jiàn zhè yí qiè huà , jiù chī xiào yē sū 。

Người Pha-ri-si là kẻ ham tiền tài, nghe mọi điều đó, bèn chê cười Ngài.

:「

yē sū duì tā men shuō :「 nǐ men shì zài rén miàn qián zì chēng wéi yì de , nǐ men de xīn , shén què zhī dào ; yīn wèi rén suǒ zūn guì de , shì shén kàn wèi kě zēng wù de 。

Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi làm bộ công bình qua mặt người ta, song Đức Chúa Trời biết lòng các ngươi; vì sự người ta tôn trọng là gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.

lǜ fǎ hé xiān zhī dào yuē hàn wéi zhǐ , cóng cǐ shén guó de fú yīn chuán kāi le , rén rén nǔ lì yào jìn qù 。

Luật pháp và các lời tiên tri có đến đời Giăng mà thôi; từ đó tin lành của nước Đức Chúa Trời được truyền ra, và ai nấy dùng sức mạnh mà vào đó.

tiān dì fèi qù jiào bǐ lǜ fǎ de yì diǎn yí huà luò kōng hái róng yì 。

Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi.

。」

fán xiū qī lìng qǔ de jiù shì fàn jiān yín ; qǔ bèi xiū zhī qī de yě shì fàn jiān yín 。」

Ai bỏ vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm, ai cưới đàn bà bị chồng để, thì cũng phạm tội tà dâm.

穿

「 yǒu yí gè cái zhǔ chuān zhe zǐ sè páo hé xì má bù yī fu , tiān tiān shē huá yàn lè 。

Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng.

yòu yǒu yí gè tǎo fàn de , míng jiào lā sā lù , hún shēn shēng chuāng , bèi rén fàng zài cái zhǔ mén kǒu ,

Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ.

yào dé cái zhǔ zhuō zi shàng diào xià lái de líng suì chōng jī , bìng qiě gǒu lái tiǎn tā de chuāng 。

Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người.

使怀

hòu lái nà tǎo fàn de sǐ le , bèi tiān shǐ dài qù fàng zài yà bó lā hǎn de huái lǐ 。 cái zhǔ yě sǐ le , bìng qiě mái zàng le 。

Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Aùp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn.

怀

tā zài yīn jiān shòu tòng kǔ , jǔ mù yuǎn yuǎn dì wàng jiàn yà bó lā hǎn , yòu wàng jiàn lā sā lù zài tā huái lǐ ,

Người giàu ở nơi âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Aùp-ra- ham, và La-xa-rơ trong lòng người;

:『。』

jiù hǎn zhe shuō :『 wǒ zǔ yà bó lā hǎn nǎ , kě lián wǒ ba ! dǎ fā lā sā lù lái , yòng zhǐ tou jiān zhàn diǎn shuǐ , liáng liáng wǒ de shé tou ; yīn wèi wǒ zài zhè huǒ yàn lǐ , jí qí tòng kǔ 。』

bèn kêu lên rằng: Hỡi Aùp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi.

:『

yà bó lā hǎn shuō :『 ér a , nǐ gāi huí xiǎng nǐ shēng qián xiǎng guò fú , lā sā lù yě shòu guò kǔ ; rú jīn tā zài zhè lǐ dé ān wèi , nǐ dǎo shòu tòng kǔ 。

Nhưng Aùp-ra-ham trả lời rằng: Con ơi, hãy nhớ lại lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình.

。』

bú dàn zhè yàng , bìng qiě zài nǐ wǒ zhī jiān , yǒu shēn yuān xiàn dìng , yǐ zhì rén yào cóng zhè biān guò dào nǐ men nà biān shì bù néng de ; yào cóng nà biān guò dào wǒ men zhè biān yě shì bù néng de 。』

Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà ai muốn từ đó qua đây cũng không được.

:『

cái zhǔ shuō :『 wǒ zǔ a ! jì shì zhè yàng , qiú nǐ dǎ fā lā sā lù dào wǒ fù jiā qù ;

Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi,

。』

yīn wèi wǒ hái yǒu wǔ gè dì xiong , tā kě yǐ duì tā men zuò jiàn zhèng , miǎn de tā men yě lái dào zhè tòng kǔ de dì fāng 。』

vì tôi có năm anh em, đặng người làm chứng cho họ về những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng.

:『西。』

yà bó lā hǎn shuō :『 tā men yǒu mó xī hé xiān zhī de huà kě yǐ tīng cóng 。』

Aùp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy!

:『。』

tā shuō :『 wǒ zǔ yà bó lā hǎn nǎ , bú shì de , ruò yǒu yí gè cóng sǐ lǐ fù huó de , dào tā men nà lǐ qù de , tā men bì yào huǐ gǎi 。』

Người giàu nói rằng: Thưa Aùp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn.

:『西。』」

yà bó lā hǎn shuō :『 ruò bù tīng cóng mó xī hé xiān zhī de huà , jiù shì yǒu yí gè cóng sǐ lǐ fù huó de , tā men yě shì bù tīng quàn 。』」

Song Aùp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.