中文圣经

LU-CA 5

đã biết 0/324

yē sū zhàn zài gé ní sā lè hú biān , zhòng rén yōng jǐ tā , yào tīng shén de dào 。

Khi Đức Chúa Jêsus, trên bờ hồ Ghê-nê-xa-rết, đoàn dân đông chen lấn nhau xung quanh Ngài đặng nghe đạo Đức Chúa Trời.

tā jiàn yǒu liǎng zhī chuán wān zài hú biān ; dǎ yú de rén què lí kāi chuán xǐ wǎng qù le 。

Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, người đánh cá đã xuống khỏi thuyền giặt lưới,

西

yǒu yì zhī chuán shì xī mén de , yē sū jiù shàng qù , qǐng tā bǎ chuán chēng kāi , shāo wēi lí àn , jiù zuò xià , cóng chuán shàng jiào xùn zhòng rén 。

thì Ngài lên một chiếc thuyền trong hai chiếc, là chiếc của Si-môn, biểu người đem ra khỏi bờ một chút; rồi Ngài ngồi mà dạy dỗ dân chúng.

西:「。」

jiǎng wán le , duì xī mén shuō :「 bǎ chuán kāi dào shuǐ shēn zhī chù , xià wǎng dǎ yú 。」

Khi Ngài phán xong thì biểu Si-môn rằng: Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá.

西:「。」

xī mén shuō :「 fū zǐ , wǒ men zhěng yè láo lì , bìng méi yǒu dǎ zhe shén me 。 dàn yī cóng nǐ de huà , wǒ jiù xià wǎng 。」

Si-môn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới.

tā men xià le wǎng , jiù quān zhù xǔ duō yú , wǎng xiǎn xiē liè kāi ,

Họ thả lưới xuống, được nhiều cá lắm, đến nỗi lưới phải đứt ra.

便

biàn zhāo hū nà zhī chuán shàng de tóng bàn lái bāng zhù 。 tā men jiù lái , bǎ yú zhuāng mǎn le liǎng zhī chuán , shèn zhì chuán yào chén xià qù 。

Họ bèn ra vọi gọi đồng bạn mình ở thuyền khác đến giúp; bạn kia đến chở cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi gần chìm.

西·:「!」

xī mén · bǐ dé kàn jiàn , jiù fǔ fú zài yē sū xī qián , shuō :「 zhǔ a , lí kāi wǒ , wǒ shì gè zuì rén !」

Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội.

tā hé yí qiè tóng zài de rén dōu jīng yà zhè yì wǎng suǒ dǎ de yú 。

Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy.

西西:「。」

tā de huǒ bàn xī bì tài de ér zi yǎ gè 、 yuē hàn , yě shì zhè yàng 。 yē sū duì xī mén shuō :「 bú yào pà ! cóng jīn yǐ hòu , nǐ yào dé rén le 。」

Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng Si-môn rằng: Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người.

tā men bǎ liǎng zhī chuán lǒng le àn , jiù piě xià suǒ yǒu de , gēn cóng le yē sū 。

Đoạn, họ đem thuyền vào bờ, bỏ hết thảy mà theo Ngài.

:「。」

yǒu yì huí , yē sū zài yí gè chéng lǐ , yǒu rén mǎn shēn cháng le dà má fēng , kàn jiàn tā , jiù fǔ fú zài dì , qiú tā shuō :「 zhǔ ruò kěn , bì néng jiào wǒ jié jìng le 。」

Đức Chúa Jêsus đang ở trong thành kia, có một người mắc bịnh phung đầy mình, thấy Ngài thì sấp mặt xuống đất, mà nài xin rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi được sạch!

:「!」

yē sū shēn shǒu mō tā , shuō :「 wǒ kěn , nǐ jié jìng le ba !」 dà má fēng lì kè jiù lí le tā de shēn 。

Đức Chúa Jêsus giơ tay rờ đến người ấy, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì, bịnh phung liền hết.

:「西。」

yē sū zhǔ fù tā :「 nǐ qiè bù kě gào sù rén , zhǐ yào qù bǎ shēn tǐ gěi jì sī chá kàn , yòu yào wèi nǐ dé le jié jìng , zhào mó xī suǒ fēn fù de xiàn shàng lǐ wù , duì zhòng rén zuò zhèng jù 。」

Đức Chúa Jêsus cấm người đó học chuyện lại với ai; nhưng dặn rằng: Hãy đi tỏ mình cùng thầy tế lễ; và dâng của lễ về sự ngươi được sạch, theo như Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ.

dàn yē sū de míng shēng yuè fā chuán yáng chū qù 。 yǒu jí duō de rén jù jí lái tīng dào , yě zhǐ wàng yī zhì tā men de bìng 。

Danh tiếng Ngài càng ngày càng vang ra, và một đoàn dân đông nhóm họp để nghe Ngài và để được chữa lành bịnh.

退

yē sū què tuì dào kuàng yě qù dǎo gào 。

Song Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện.

使

yǒu yì tiān , yē sū jiào xùn rén , yǒu fǎ lì sài rén hé jiào fǎ shī zài páng biān zuò zhe ; tā men shì cóng jiā lì lì gè xiāng cūn hé yóu tài bìng yē lù sā lěng lái de 。 zhǔ de néng lì yǔ yē sū tóng zài , shǐ tā néng yī zhì bìng rén 。

Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ, có người Pha-ri-si và mấy thầy dạy luật từ các làng xứ Ga-li-lê, xứ Giu-đê, và thành Giê-ru-sa-lem đều đến, ngồi tại đó, quyền phép Chúa ở trong Ngài để chữa lành các bịnh.

yǒu rén yòng rù zǐ tái zhe yí gè tān zǐ , yào tái jìn qù fàng zài yē sū miàn qián ,

Bấy giờ, có mấy người khiêng một kẻ đau bại trên giường, kiếm cách đem vào để trước mặt Đức Chúa Jêsus.

què yīn rén duō , xún bù chū fǎ zǐ tái jìn qù , jiù shàng le fáng dǐng , cóng wǎ jiān bǎ tā lián rù zǐ zhuì dào dāng zhōng , zhèng zài yē sū miàn qián 。

Nhân vì người ta đông lắm, không biết bởi đâu mà qua, họ bèn trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, dòng người và giường nhỏ xuống trước mặt Ngài, giữa đám đô hội.

:「。」

yē sū jiàn tā men de xìn xīn , jiù duì tān zǐ shuō :「 nǐ de zuì shè le 。」

Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của họ, bèn phán rằng: Hỡi người, tội lỗi ngươi đã được tha.

:「 ?」

wén shì hé fǎ lì sài rén jiù yì lùn shuō :「 zhè shuō jiàn wàng huà de shì shuí ? chú le shén yǐ wài , shuí néng shè zuì ne ?」

Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: Người nầy là ai mà nói phạm thượng vậy? Ngoài Đức Chúa Trời, há có ai tha tội được sao?

:「

yē sū zhī dào tā men suǒ yì lùn de , jiù shuō :「 nǐ men xīn lǐ yì lùn de shì shén me ne ?

Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, cất tiếng phán rằng: Các ngươi nghị luận gì trong lòng?

』,』,

huò shuō 『 nǐ de zuì shè le 』, huò shuō 『 nǐ qǐ lái xíng zǒu 』, nǎ yí yàng róng yì ne ?

Nay nói rằng: Tội ngươi đã được tha, hoặc rằng: Ngươi hãy đứng dậy mà đi, thì bên nào dễ hơn?

。」:「!」

dàn yào jiào nǐ men zhī dào , rén zǐ zài dì shàng yǒu shè zuì de quán bǐng 。」 jiù duì tān zǐ shuō :「 wǒ fēn fù nǐ , qǐ lái , ná nǐ de rù zǐ huí jiā qù ba !」

Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội: Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi đứng dậy, vác giường trở về nhà.

耀

nà rén dāng zhòng rén miàn qián lì kè qǐ lái , ná zhe tā suǒ tǎng wò de rù zǐ huí jiā qù , guī róng yào yǔ shén 。

Tức thì kẻ bại đứng dậy trước mặt chúng, vác giường mình đã nằm, và đi về nhà, ngợi khen Đức Chúa Trời.

耀 :「。」

zhòng rén dōu jīng qí , yě guī róng yào yǔ shén , bìng qiě mǎn xīn jù pà , shuō :「 wǒ men jīn rì kàn jiàn fēi cháng de shì le 。」

Ai nấy đều sững sờ, ngợi khen Đức Chúa Trời; và sợ sệt lắm mà nói rằng: Hôm nay chúng ta đã thấy những việc dị thường.

:「。」

zhè shì yǐ hòu , yē sū chū qù , kàn jiàn yí gè shuì lì , míng jiào lì wèi , zuò zài shuì guān shàng , jiù duì tā shuō :「 nǐ gēn cóng wǒ lái 。」

Kế đó, Đức Chúa Jêsus ra ngoài, thấy một người thâu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi tại sở thâu thuế. Ngài phán cùng người rằng: Hãy theo ta!

tā jiù piě xià suǒ yǒu de , qǐ lái , gēn cóng le yē sū 。

Lê-vi bỏ hết mọi sự, đứng dậy đi theo Ngài.

lì wèi zài zì jǐ jiā lǐ wèi yē sū dà bǎi yán xí , yǒu xǔ duō shuì lì hé bié rén yǔ tā men yì tóng zuò xí 。

Lê-vi dọn tiệc trọng thể đãi Ngài tại nhà mình, có nhiều người thâu thuế và kẻ khác cùng ngồi ăn đồng bàn.

:「?」

fǎ lì sài rén hé wén shì jiù xiàng yē sū de mén tú fā yuàn yán shuō :「 nǐ men wèi shén me hé shuì lì bìng zuì rén yì tóng chī hē ne ?」

Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo họ lằm bằm, nói cùng môn đồ Ngài rằng: Sao các ngươi ăn uống với người thâu thuế và kẻ phạm tội?

:「

yē sū duì tā men shuō :「 wú bìng de rén yòng bù zhe yī shēng ; yǒu bìng de rén cái yòng dé zhe 。

Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm.

。」

wǒ lái běn bú shì zhào yì rén huǐ gǎi , nǎi shì zhào zuì rén huǐ gǎi 。」

Ta không phải đến gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội.

:「。」

tā men shuō :「 yuē hàn de mén tú lǚ cì jìn shí qí dǎo , fǎ lì sài rén de mén tú yě shì zhè yàng ; wéi dú nǐ de mén tú yòu chī yòu hē 。」

Họ thưa Ngài rằng: môn đồ của Giăng thường kiêng ăn cầu nguyện, cũng như môn đồ của người Pha-ri-si, chẳng như môn đồ của thầy ăn và uống.

:「

yē sū duì tā men shuō :「 xīn láng hé péi bàn zhī rén tóng zài de shí hòu , qǐ néng jiào péi bàn zhī rén jìn shí ne ?

Ngài đáp rằng: Trong khi chàng rể còn ở cùng bạn mừng cưới mình, các ngươi dễ bắt họ phải kiêng ăn được sao?

。」

dàn rì zi jiāng dào , xīn láng yào lí kāi tā men , nà rì tā men jiù yào jìn shí le 。」

Song đến ngày nào chàng rể phải đem đi khỏi họ, thì trong những ngày ấy họ mới kiêng ăn vậy.

:「

yē sū yòu shè yí gè bǐ yù , duì tā men shuō :「 méi yǒu rén bǎ xīn yī fu sī xià yí kuài lái bǔ zài jiù yī fu shàng ; ruò shì zhè yàng , jiù bǎ xīn de sī pò le , bìng qiě suǒ sī xià lái de nà kuài xīn de hé jiù de yě bù xiāng chèn 。

Ngài lại lấy thí dụ mà phán cùng họ rằng: Không ai xé một miếng áo mới mà vá áo cũ. Nếu vậy, áo mới phải rách, và miếng giẻ mới cũng không xứng với áo cũ.

便

yě méi yǒu rén bǎ xīn jiǔ zhuāng zài jiù pí dài lǐ ; ruò shì zhè yàng , xīn jiǔ bì jiāng pí dài liè kāi , jiǔ biàn lòu chū lái , pí dài yě jiù huài le 。

Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, nếu vậy, rượu mới làm nứt bầu ra; rượu chảy mất và bầu cũng phải hư đi.

dàn xīn jiǔ bì xū zhuāng zài xīn pí dài lǐ 。

Song rượu mới phải đổ vào bầu mới.

。」

méi yǒu rén hē le chén jiǔ yòu xiǎng hē xīn de ; tā zǒng shuō chén de hǎo 。」

Lại cũng không ai uống rượu cũ lại đòi rượu mới; vì người nói rằng: Rượu cũ ngon hơn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.