中文圣经

LU-CA 8

đã biết 0/437

guò le bù duō rì , yē sū zhōu yóu gè chéng gè xiāng chuán dào , xuān jiǎng shén guó de fú yīn 。 hé tā tóng qù de yǒu shí èr gè mén tú ,

Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi thành nầy đến thành kia, làng nầy đến làng khác, giảng dạy và rao truyền tin lành của nước Đức Chúa Trời. Có mười hai sứ đồ ở với Ngài.

),

hái yǒu bèi è guǐ suǒ fù 、 bèi jí bìng suǒ lèi 、 yǐ jīng zhì hǎo de jǐ gè fù nǚ , nèi zhōng yǒu chēng wéi mǒ dà lā de mǎ lì yà ( céng yǒu qī gè guǐ cóng tā shēn shàng gǎn chū lái ),

Cũng có mấy người đàn bà đi theo Ngài, là những người đã được cứu khỏi quỉ dữ và chữa khỏi bịnh: Ma-ri, gọi là Ma-đơ-len, từ người bảy quỉ dữ đã ra,

yòu yǒu xī lǜ de jiā zǎi kǔ sā de qī zǐ yuē yà ná , bìng sū sā ná , hé hǎo xiē bié de fù nǚ , dōu shì yòng zì jǐ de cái wù gōng jǐ yē sū hé mén tú 。

Gian-nơ vợ Chu-xa, là quan nội vụ của vua Hê-rốt, Su-xan-nơ và nhiều người khác nữa giúp của cải cho Ngài.

dāng xǔ duō rén jù jí 、 yòu yǒu rén cóng gè chéng lǐ chū lái jiàn yē sū de shí hòu , yē sū jiù yòng bǐ yù shuō :

Khi có đoàn dân đông nhóm lại, và người hết thảy các thành đều đến cùng Ngài, thì Ngài lấy thí dụ mà phán cùng họ rằng:

「 yǒu yí gè sā zhǒng de chū qù sā zhǒng 。 sā de shí hòu , yǒu luò zài lù páng de , bèi rén jiàn tà , tiān shàng de fēi niǎo yòu lái chī jìn le 。

Người gieo đi ra để gieo giống mình. Khi vải giống, một phần giống rơi ra dọc đường, bị giày đạp và chim trời xuống ăn hết.

yǒu luò zài pán shí shàng de , yì chū lái jiù kū gān le , yīn wèi dé bù zhe zī rùn 。

Một phần khác rơi ra nơi đất đá sỏi, khi mới mọc lên, liền héo đi, vì không có hơi ẩm.

yǒu luò zài jīng jí lǐ de , jīng jí yì tóng shēng zhǎng , bǎ tā jǐ zhù le 。

Một phần khác rơi vào bụi gai, gai mọc lên với hột giống, làm cho nghẹt ngòi.

。」:「!」

yòu yǒu luò zài hǎo tǔ lǐ de , shēng zhǎng qǐ lái , jiē shi bǎi bèi 。」 yē sū shuō le zhè xiē huà , jiù dà shēng shuō :「 yǒu ěr kě tīng de , jiù yīng dāng tīng !」

Lại có một phần khác rơi xuống nơi đất tốt, thì mọc lên, và kết quả, một thành trăm. Đang phán mấy lời đó, Ngài kêu lên rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.

:「?」

mén tú wèn yē sū shuō :「 zhè bǐ yù shì shén me yì sī ne ?」

Môn đồ hỏi Ngài thí dụ ấy có nghĩa gì.

:「 。」

tā shuō :「 shén guó de ào mì zhī jiào nǐ men zhī dào ; zhì yú bié rén , jiù yòng bǐ yù , jiào tā men kàn yě kàn bú jiàn , tīng yě tīng bù míng 。」

Ngài đáp rằng: Đã ban cho các ngươi được biết những sự mầu nhiệm nước Đức Chúa Trời; song, với kẻ khác thì dùng thí dụ mà nói, để họ xem mà không thấy, nghe mà không hiểu.

「 zhè bǐ yù nǎi shì zhè yàng : zhǒng zi jiù shì shén de dào 。

Nầy, lời thí dụ đó nghĩa như vầy: Hột giống là đạo Đức Chúa Trời.

nà xiē zài lù páng de , jiù shì rén tīng le dào , suí hòu mó guǐ lái , cóng tā men xīn lǐ bǎ dào duó qù , kǒng pà tā men xìn liǎo dé jiù 。

Phần rơi ra dọc đường, là những kẻ nghe đạo; nhưng về sau ma quỉ đến, cướp lấy đạo từ trong lòng họ, e rằng họ tin mà được cứu chăng.

退

nà xiē zài pán shí shàng de , jiù shì rén tīng dào , huān xǐ lǐng shòu , dàn xīn zhōng méi yǒu gēn , bú guò zàn shí xiāng xìn , jí zhì yù jiàn shì liàn jiù tuì hòu le 。

Phần rơi ra đất đá sỏi là kẻ nghe đạo, bèn vui mừng chịu lấy; nhưng họ không có rễ, chỉ tin tạm mà thôi; nên khi sự thử thách đến, thì họ tháo lui.

便

nà luò zài jīng jí lǐ de , jiù shì rén tīng le dào , zǒu kāi yǐ hòu , bèi jīn shēng de sī lǜ 、 qián cái 、 yàn lè jǐ zhù le , biàn jié bù chū chéng shú de zǐ lì lái 。

Phần rơi vào bụi gai, là những kẻ đã nghe đạo, nhưng rồi đi, để cho sự lo lắng, giàu sang, sung sướng đời nầy làm cho đạo phải nghẹt ngòi, đến nỗi không sanh trái nào được chín.

。」

nà luò zài hǎo tǔ lǐ de , jiù shì rén tīng le dào , chí shǒu zài chéng shí shàn liáng de xīn lǐ , bìng qiě rěn nài zhe jiē shi 。」

Song phần rơi vào nơi đất tốt, là kẻ có lấy lòng thật thà tử tế nghe đạo, gìn giữ và kết quả một cách bền lòng.

「 méi yǒu rén diǎn dēng yòng qì mǐn gài shàng , huò fàng zài chuáng dǐ xià , nǎi shì fàng zài dēng tái shàng , jiào jìn lái de rén kàn jiàn liàng guāng 。

Không ai đã thắp đèn tại lấy thùng úp lại, hay là để dưới giường; nhưng để trên chân đèn, hầu cho ai vào nhà đều thấy sáng.

yīn wèi yǎn cáng de shì méi yǒu bù xiǎn chū lái de ; yǐn mán de shì méi yǒu bú lù chū lái bèi rén zhī dào de 。

Thật không có điều gì kín mà không phải lộ ra, không có điều gì giấu mà chẳng bị biết và tỏ ra.

。」

suǒ yǐ , nǐ men yīng dāng xiǎo xīn zěn yàng tīng ; yīn wèi fán yǒu de , hái yào jiā gěi tā ; fán méi yǒu de , lián tā zì yǐ wéi yǒu de , yě yào duó qù 。」

Vậy, hãy coi chừng về cách các ngươi nghe; vì kẻ đã có, sẽ cho thêm; kẻ không có, sẽ cất lấy sự họ tưởng mình có.

yē sū de mǔ qīn hé tā dì xiong lái le , yīn wèi rén duō , bù dé dào tā gēn qián 。

Mẹ và anh em Đức Chúa Jêsus đến tìm Ngài; song vì người ta đông lắm, nên không đến gần Ngài được.

:「。」

yǒu rén gào sù tā shuō :「 nǐ mǔ qīn hé nǐ dì xiong zhàn zài wài biān , yào jiàn nǐ 。」

Vậy có kẻ báo cho Ngài biết rằng: Mẹ và anh em thầy ở ngoài, muốn thấy thầy.

:「 。」

yē sū huí dá shuō :「 tīng le shén zhī dào ér zūn xíng de rén jiù shì wǒ de mǔ qīn , wǒ de dì xiong le 。」

Nhưng Ngài đáp rằng: Mẹ ta và anh em ta là kẻ nghe đạo Đức Chúa Trời và làm theo đạo ấy.

:「。」

yǒu yì tiān , yē sū hé mén tú shàng le chuán , duì mén tú shuō :「 wǒ men kě yǐ dù dào hú nà biān qù 。」 tā men jiù kāi le chuán 。

Một ngày kia, Ngài xuống thuyền với môn đồ, mà phán rằng: Hãy qua bên kia hồ; rồi đi.

zhèng xíng de shí hòu , yē sū shuì zháo le 。 hú shàng hū rán qǐ le bào fēng , chuán jiāng mǎn le shuǐ , shèn shì wēi xiǎn 。

Khi thuyền đang chạy, thì Ngài ngủ. Có cơn bão nổi lên trong hồ, nước vào đầy thuyền, đang nguy hiểm lắm.

:「!」

mén tú lái jiào xǐng le tā , shuō :「 fū zǐ ! fū zǐ ! wǒ men sàng mìng lā !」 yē sū xǐng le , chì zé nà kuáng fēng dà làng ; fēng làng jiù zhǐ zhù , píng jìng le 。

Môn đồ bèn đến thức Ngài dậy, rằng: Thầy ôi, Thầy ôi, chúng ta chết! Nhưng Ngài, vừa thức dậy, khiến gió và sóng phải bình tịnh thì liền bình tịnh và yên lặng như tờ.

:「?」:「。」

yē sū duì tā men shuō :「 nǐ men de xìn xīn zài nǎ lǐ ne ?」 tā men yòu jù pà yòu xī qí , bǐ cǐ shuō :「 zhè dào dǐ shì shuí ? tā fēn fù fēng hé shuǐ , lián fēng hé shuǐ yě tīng cóng tā le 。」

Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Đức tin các ngươi ở đâu? Môn đồ sợ hãi và bỡ ngỡ, nói với nhau rằng: Người nầy là ai, khiến đến gió và nước, mà cũng phải vâng lời người?

tā men dào le gé lā sēn rén de dì fāng , jiù shì jiā lì lì de duì miàn 。

Kế đó, ghé vào đất của dân Giê-ra-sê, ngang xứ Ga-li-lê.

穿

yē sū shàng le àn , jiù yǒu chéng lǐ yí gè bèi guǐ fù zhuó de rén yíng miàn ér lái 。 zhè ge rén xǔ jiǔ bù chuān yī fu , bú zhù fáng zi , zhī zhù zài fén yíng lǐ 。

Khi Đức Chúa Jêsus lên bờ, có một người ở thành ấy bị nhiều quỉ ám đi gặp Ngài. Đã lâu nay, người không mặc áo, không ở nhà, song ở nơi mồ mả.

:「 !」

tā jiàn le yē sū , jiù fǔ fú zài tā miàn qián , dà shēng hǎn jiào , shuō :「 zhì gāo shén de ér zi yē sū , wǒ yǔ nǐ yǒu shén me xiāng gān ? qiú nǐ bú yào jiào wǒ shòu kǔ !」

Người ấy vừa thấy Đức Chúa Jêsus thì la lên inh ỏi, và đến gieo mình nơi chân Ngài, nói lớn tiếng rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời Rất Cao, tôi với Ngài có sự chi chăng? Tôi cầu xin Ngài, đừng làm khổ tôi.

shì yīn yē sū céng fēn fù wū guǐ cóng nà rén shēn shàng chū lái 。 yuán lái zhè guǐ lǚ cì zhuā zhù tā ; tā cháng bèi rén kān shǒu , yòu bèi tiě liàn hé jiǎo liào kǔn suǒ , tā jìng bǎ suǒ liàn zhèng duàn , bèi guǐ gǎn dào kuàng yě qù 。

Vì Đức Chúa Jêsus đang truyền cho tà ma phải ra khỏi người đó mà nó đã ám từ lâu; dầu họ giữ người, xiềng và còng chân lại, người cứ bẻ xiềng tháo còng, và bị quỉ dữ đem vào nơi đồng vắng.

:「?」:「』」;

yē sū wèn tā shuō :「 nǐ míng jiào shén me ?」 tā shuō :「 wǒ míng jiào 『 qún 』」; zhè shì yīn wèi fù zhuó tā de guǐ duō 。

Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Mầy tên gì? Người thưa rằng: Quân đội; vì nhiều quỉ đã ám vào người.

guǐ jiù yāng qiú yē sū , bú yào fēn fù tā men dào wú dǐ kēng lǐ qù 。

Chúng nó bèn cầu xin Đức Chúa Jêsus đừng khiến mình xuống vực sâu.

nà lǐ yǒu yí dà qún zhū zài shān shàng chī shí 。 guǐ yāng qiú yē sū , zhǔn tā men jìn rù zhū lǐ qù 。 yē sū zhǔn le tā men ,

Vả, ở đó có một bầy heo đông đang ăn trên núi. Các quỉ xin Đức Chúa Jêsus cho chúng nó nhập vào những heo ấy, Ngài bèn cho phép.

guǐ jiù cóng nà rén chū lái , jìn rù zhū lǐ qù 。 yú shì nà qún zhū chuǎng xià shān yá , tóu zài hú lǐ yān sǐ le 。

Vậy, các quỉ ra khỏi người đó, nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao đâm đầu xuống hồ và chết chìm.

fàng zhū de kàn jiàn zhè shì jiù táo pǎo le , qù gào sù chéng lǐ hé xiāng xià de rén 。

Các kẻ chăn heo thấy vậy chạy trốn, đồn tin ấy ra trong thành và trong nhà quê.

穿

zhòng rén chū lái yào kàn shì shén me shì ; dào le yē sū nà lǐ , kàn jiàn guǐ suǒ lí kāi de nà rén , zuò zài yē sū jiǎo qián , chuān zhe yī fu , xīn lǐ míng bái guò lái , tā men jiù hài pà 。

Thiên hạ bèn đổ ra xem việc mới xảy ra; khi họ đến cùng Đức Chúa Jêsus, thấy người mà các quỉ mới ra khỏi ngồi dưới chân Đức Chúa Jêsus, mặc áo quần, bộ tỉnh táo, thì sợ hãi lắm.

便

kàn jiàn zhè shì de biàn jiāng bèi guǐ fù zhuó de rén zěn me dé jiù gào sù tā men 。

Những người đã xem thấy sự lạ đó, thuật lại cho thiên hạ biết người bị quỉ ám được cứu khỏi thế nào.

gé lā sēn sì wéi de rén , yīn wéi hài pà dé hěn , dōu qiú yē sū lí kāi tā men ; yē sū jiù shàng chuán huí qù le 。

Hết thảy dân ở miền người Giê-ra-sê xin Đức Chúa Jêsus lìa khỏi xứ họ, vì họ sợ hãi lắm. Ngài bèn xuống thuyền trở về.

guǐ suǒ lí kāi de nà rén kěn qiú hé yē sū tóng zài ; yē sū què dǎ fā tā huí qù , shuō :

Người đã khỏi những quỉ ám xin phép ở với Ngài, nhưng Đức Chúa Jêsus biểu về, mà rằng:

。」

「 nǐ huí jiā qù , chuán shuō shén wèi nǐ zuò le hé děng dà de shì 。」 tā jiù qù , mǎn chéng lǐ chuán yáng yē sū wèi tā zuò le hé děng dà de shì 。

Hãy về nhà ngươi, thuật lại mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho ngươi. Vậy, người ấy đi, đồn khắp cả thành mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm cho mình.

yē sū huí lái de shí hòu , zhòng rén yíng jiē tā , yīn wèi tā men dōu děng hòu tā 。

Khi trở về, có đoàn dân đông rước Ngài; vì ai nấy cũng trông đợi Ngài.

yǒu yí gè guǎn huì táng de , míng jiào yá lǔ , lái fǔ fú zài yē sū jiǎo qián , qiú yē sū dào tā jiā lǐ qù ;

Có người cai nhà hội tên là Giai-ru đến sấp mình xuống nơi chân Đức Chúa Jêsus, xin Ngài vào nhà mình.

yīn tā yǒu yí gè dú shēng nǚ ér , yuē yǒu shí èr suì , kuài yào sǐ le 。 yē sū qù de shí hòu , zhòng rén yōng jǐ tā 。

Vì người có con gái một, mười hai tuổi, gần chết. Khi Đức Chúa Jêsus đang đi, dân chúng lấn ép Ngài tứ phía.

yǒu yí gè nǚ rén , huàn le shí èr nián de xuè lòu , zài yī shēng shǒu lǐ huā jìn le tā yí qiè yǎng shēng de , bìng méi yǒu yì rén néng yī hǎo tā 。

Bấy giờ, có một người đàn bà đau bịnh mất huyết mười hai năm rồi, cũng đã tốn hết tiền của về thầy thuốc, không ai chữa lành được,

tā lái dào yē sū bèi hòu , mō tā de yī shang zǐ , xuè lòu lì kè jiù zhǐ zhù le 。

đến đằng sau Ngài rờ trôn áo; tức thì huyết cầm lại.

:「?」:「。 」

yē sū shuō :「 mō wǒ de shì shuí ?」 zhòng rén dōu bù chéng rèn 。 bǐ dé hé tóng háng de rén dōu shuō :「 fū zǐ , zhòng rén yōng yōng jǐ jǐ jǐn kào zhe nǐ 。 」

Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ai sờ đến ta? Ai nấy đều chối; Phi-e-rơ và những người đồng bạn thưa rằng: Thưa thầy, đoàn dân vây lấy và ép thầy.

:「。」

yē sū shuō :「 zǒng yǒu rén mō wǒ , yīn wǒ jué de yǒu néng lì cóng wǒ shēn shàng chū qù 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Có người đã rờ đến ta, vì ta nhận biết có quyền phép từ ta mà ra.

nà nǚ rén zhī dào bù néng yǐn cáng , jiù zhàn zhàn jīng jīng dì lái fǔ fú zài yē sū jiǎo qián , bǎ mō tā de yuán gù hé zěn yàng lì kè dé hǎo le , dāng zhe zhòng rén dōu shuō chū lái 。

Người đàn bà thấy mình không thể giấu được nữa, thì run sợ, đến sấp mình xuống nơi chân Ngài, tỏ thật trước mặt dân chúng vì cớ nào mình đã rờ đến, và liền được lành làm sao.

:「!」

yē sū duì tā shuō :「 nǚ ér , nǐ de xìn jiù le nǐ ; píng píng ān ān dì qù ba !」

Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an.

:「。」

hái shuō huà de shí hòu , yǒu rén cóng guǎn huì táng de jiā lǐ lái , shuō :「 nǐ de nǚ ér sǐ le , bú yào láo dòng fū zǐ 。」

Ngài còn đang phán, có kẻ ở nhà người cai nhà hội đến nói với người rằng: Con gái ông chết rồi; đừng làm phiền thầy chi nữa.

:「。」

yē sū tīng jiàn jiù duì tā shuō :「 bú yào pà , zhǐ yào xìn ! nǐ de nǚ ér jiù bì dé jiù 。」

Song Đức Chúa Jêsus nghe vậy, phán cùng Giai-ru rằng: Đừng sợ, hãy tin mà thôi, thì con ngươi sẽ được cứu.

yē sū dào le tā de jiā , chú le bǐ dé 、 yuē hàn 、 yǎ gè , hé nǚ ér de fù mǔ , bù xǔ bié rén tóng tā jìn qù 。

Khi đến nhà, Ngài chỉ cho Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và cha mẹ con ấy vào cùng Ngài.

:「。」

zhòng rén dōu wèi zhè nǚ ér āi kū chuí xiōng 。 yē sū shuō :「 bú yào kū ! tā bú shì sǐ le , shì shuì zháo le 。」

Ai nấy đều khóc lóc than vãn về con đó. Nhưng Ngài phán rằng: Đừng khóc, con nầy không phải chết, song nó ngủ.

tā men xiǎo de nǚ ér yǐ jīng sǐ le , jiù chī xiào yē sū 。

Họ biết nó thật chết rồi, bèn nhạo báng Ngài.

:「!」

yē sū lā zhe tā de shǒu , hū jiào shuō :「 nǚ ér , qǐ lái ba !」

nhưng Đức Chúa Jêsus cầm lấy tay con ấy, gọi lớn tiếng lên rằng: Con ơi, hãy chờ dậy!

便西

tā de líng hún biàn huí lái , tā jiù lì kè qǐ lái le 。 yē sū fēn fù gěi tā dōng xī chī 。

Thần linh bèn hoàn lại, con ấy chờ dậy liền; rồi Ngài truyền cho nó ăn.

tā de fù mǔ jīng qí dé hěn ; yē sū zhǔ fù tā men , bú yào bǎ suǒ zuò de shì gào sù rén 。

Cha mẹ nó lấy làm lạ; nhưng Ngài cấm nói lại sự xảy ra đó với ai.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.