中文圣经

LU-CA 9

đã biết 0/439

yē sū jiào qí le shí èr gè mén tú , gěi tā men néng lì 、 quán bǐng , zhì fú yí qiè de guǐ , yī zhì gè yàng de bìng ,

Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.

yòu chāi qiǎn tā men qù xuān chuán shén guó de dào , yī zhì bìng rén ,

Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.

:「

duì tā men shuō :「 xíng lù de shí hòu , bú yào dài guǎi zhàng hé kǒu dài , bú yào dài shí wù hé yín zi , yě bú yào dài liǎng jiàn guà zǐ 。

Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.

wú lùn jìn nǎ yì jiā , jiù zhù zài nà lǐ , yě cóng nà lǐ qǐ xíng 。

Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.

。」

fán bù jiē dài nǐ men de , nǐ men lí kāi nà chéng de shí hòu , yào bǎ jiǎo shàng de chén tǔ duò xià qù , jiàn zhèng tā men de bú shì 。」

Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.

mén tú jiù chū qù , zǒu biàn gè xiāng xuān chuán fú yīn , dào chǔ zhì bìng 。

Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.

:「」;

fēn fēng de wáng xī lǜ tīng jiàn yē sū suǒ zuò de yí qiè shì , jiù yóu yí bú dìng ; yīn wèi yǒu rén shuō :「 shì yuē hàn cóng sǐ lǐ fù huó 」;

Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;

:「」;:「。」

yòu yǒu rén shuō :「 shì yǐ lì yà xiǎn xiàn 」; hái yǒu rén shuō :「 shì gǔ shí de yí gè xiān zhī yòu huó le 。」

kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.

:「?」

xī lǜ shuō :「 yuē hàn wǒ yǐ jīng zhǎn le , zhè què shì shén me rén ? wǒ jìng tīng jiàn tā zhè yàng de shì ne ?」 jiù xiǎng yào jiàn tā 。

Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.

使

shǐ tú huí lái , jiāng suǒ zuò de shì gào sù yē sū , yē sū jiù dài tā men àn àn dì lí kāi nà lǐ , wǎng yí zuò chéng qù ; nà chéng míng jiào bó sài dà 。

Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.

便

dàn zhòng rén zhī dào le , jiù gēn zhe tā qù ; yē sū biàn jiē dài tā men , duì tā men jiǎng lùn shén guó de dào , yī zhì nà xiē xū yī de rén 。

Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.

西:「宿。」

rì tou kuài yào píng xī , shí èr gè mén tú lái duì tā shuō :「 qǐng jiào zhòng rén sàn kāi , tā men hǎo wǎng sì miàn xiāng cūn lǐ qù jiè sù zhǎo chī de , yīn wèi wǒ men zhè lǐ shì yě dì 。」

Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.

:「!」:「。」

yē sū shuō :「 nǐ men gěi tā men chī ba !」 mén tú shuō :「 wǒ men bú guò yǒu wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú , ruò bú qù wèi zhè xǔ duō rén mǎi shí wù jiù bú gòu 。」

Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.

:「。」

nà shí , rén shù yuē yǒu wǔ qiān 。 yē sū duì mén tú shuō :「 jiào tā men yì pái yi pái dì zuò xià , měi pái dà yuē wǔ shí gè rén 。」

Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.

mén tú jiù rú cǐ xíng , jiào zhòng rén dōu zuò xià 。

Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.

yē sū ná zhe zhè wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú , wàng zhe tiān zhù fú , bò kāi , dì gěi mén tú , bǎi zài zhòng rén miàn qián 。

Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.

tā men jiù chī , bìng qiě dōu chī bǎo le ; bǎ shèng xià de líng suì shōu shí qǐ lái , zhuāng mǎn le shí èr lán zi 。

Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.

:「?」

yē sū zì jǐ dǎo gào de shí hòu , mén tú yě tóng tā zài nà lǐ 。 yē sū wèn tā men shuō :「 zhòng rén shuō wǒ shì shuí ?」

Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?

:「。」

tā men shuō :「 yǒu rén shuō shì shī xǐ de yuē hàn ; yǒu rén shuō shì yǐ lì yà ; hái yǒu rén shuō shì gǔ shí de yí gè xiān zhī yòu huó le 。」

Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.

:「?」:「 。」

yē sū shuō :「 nǐ men shuō wǒ shì shuí ?」 bǐ dé huí dá shuō :「 shì shén suǒ lì de jī dū 。」

Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.

yē sū qiè qiè dì zhǔ fù tā men , bù kě jiāng zhè shì gào sù rén ,

Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,

:「。」

yòu shuō :「 rén zǐ bì xū shòu xǔ duō de kǔ , bèi zhǎng lǎo 、 jì sī zhǎng , hé wén shì qì jué , bìng qiě bèi shā , dì sān rì fù huó 。」

và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.

:「

yē sū yòu duì zhòng rén shuō :「 ruò yǒu rén yào gēn cóng wǒ , jiù dāng shè jǐ , tiān tiān bèi qǐ tā de shí zì jià lái gēn cóng wǒ 。

Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.

yīn wèi , fán yào jiù zì jǐ shēng mìng de , bì sàng diào shēng mìng ; fán wèi wǒ sàng diào shēng mìng de , bì jiù le shēng mìng 。

Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.

rén ruò zhuàn dé quán shì jiè , què sàng le zì jǐ , péi shàng zì jǐ , yǒu shén me yì chù ne ?

Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?

耀使耀

fán bǎ wǒ hé wǒ de dào dàng zuò kě chǐ de , rén zǐ zài zì jǐ de róng yào lǐ , bìng tiān fù yǔ shèng tiān shǐ de róng yào lǐ jiàng lín de shí hòu , yě yào bǎ nà rén dàng zuò kě chǐ de 。

Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.

。」

wǒ shí zài gào sù nǐ men , zhàn zài zhè lǐ de , yǒu rén zài méi cháng sǐ wèi yǐ qián , bì kàn jiàn shén de guó 。」

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.

shuō le zhè huà yǐ hòu yuē yǒu bā tiān , yē sū dài zhe bǐ dé 、 yuē hàn 、 yǎ gè shàng shān qù dǎo gào 。

Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.

zhèng dǎo gào de shí hòu , tā de miàn mào jiù gǎi biàn le , yī fu jié bái fàng guāng 。

Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.

西

hū rán yǒu mó xī 、 yǐ lì yà liǎng gè rén tóng yē sū shuō huà ;

Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,

tā men zài róng guāng lǐ xiǎn xiàn , tán lùn yē sū qù shì de shì , jiù shì tā zài yē lù sā lěng jiāng yào chéng de shì 。

hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.

bǐ dé hé tā de tóng bàn dōu dǎ dǔn , jì qīng xǐng le , jiù kàn jiàn yē sū de róng guāng , bìng tóng tā zhàn zhe de nà liǎng gè rén 。

Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.

:「西。」

èr rén zhèng yào hé yē sū fēn lí de shí hòu , bǐ dé duì yē sū shuō :「 fū zǐ , wǒ men zài zhè lǐ zhēn hǎo ! kě yǐ dā sān zuò péng , yí zuò wèi nǐ , yí zuò wèi mó xī , yí zuò wèi yǐ lì yà 。」 tā què bù zhī dào suǒ shuō de shì shén me 。

Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.

shuō zhè huà de shí hòu , yǒu yì duǒ yún cǎi lái zhē gài tā men ; tā men jìn rù yún cǎi lǐ jiù jù pà 。

Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.

:「。」

yǒu shēng yīn cóng yún cǎi lǐ chū lái , shuō :「 zhè shì wǒ de ér zi , wǒ suǒ jiǎn xuǎn de , nǐ men yào tīng tā 。」

Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.

shēng yīn zhù le , zhǐ jiàn yē sū yì rén zài nà lǐ 。 dāng nà xiē rì zi , mén tú bù tí suǒ kàn jiàn de shì , yí yàng yě bú gào sù rén 。

Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.

dì èr tiān , tā men xià le shān , jiù yǒu xǔ duō rén yíng jiàn yē sū 。

Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.

:「

qí zhōng yǒu yì rén hǎn jiào shuō :「 fū zǐ ! qiú nǐ kàn gù wǒ de ér zi , yīn wèi tā shì wǒ de dú shēng zǐ 。

Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.

tā bèi guǐ zhuā zhù jiù hū rán hǎn jiào ; guǐ yòu jiào tā chōu fēng , kǒu zhōng liú mò , bìng qiě chóng chóng dì shāng hài tā , nán yǐ lí kāi tā 。

Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.

。」

wǒ qiú guò nǐ de mén tú , bǎ guǐ gǎn chū qù , tā men què shì bù néng 。」

Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.

:「!」

yē sū shuō :「 ài ! zhè yòu bú xìn yòu bèi miù de shì dài a , wǒ zài nǐ men zhè lǐ , rěn nài nǐ men yào dào jǐ shí ne ? jiāng nǐ de ér zi dài dào zhè lǐ lái ba !」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.

zhèng lái de shí hòu , guǐ bǎ tā shuāi dǎo , jiào tā chóng chóng dì chōu fēng 。 yē sū jiù chì zé nà wū guǐ , bǎ hái zi zhì hǎo le , jiāo gěi tā fù qīn 。

Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.

17·22—23;9·30—32)

zhòng rén dōu chà yì shén de dà néng 。 yē sū dì èr cì yù yán tā de sǐ ( tài 17·22—23; kě 9·30—32) yē sū suǒ zuò de yí qiè shì , zhòng rén zhèng xī qí de shí hòu , yē sū duì mén tú shuō :

Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:

。」

「 nǐ men yào bǎ zhè xiē huà cún zài ěr zhōng , yīn wèi rén zǐ jiāng yào bèi jiāo zài rén shǒu lǐ 。」

Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.

tā men bù míng bái zhè huà , yì sī nǎi shì yǐn cáng de , jiào tā men bù néng míng bái , tā men yě bù gǎn wèn zhè huà de yì sī 。

Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.

mén tú zhōng jiān qǐ le yì lùn , shuí jiāng wèi dà 。

Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.

yē sū kàn chū tā men xīn zhōng de yì lùn , jiù lǐng yí gè xiǎo hái zi lái , jiào tā zhàn zài zì jǐ páng biān ,

Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,

:「便。」

duì tā men shuō :「 fán wèi wǒ míng jiē dài zhè xiǎo hái zi de , jiù shì jiē dài wǒ ; fán jiē dài wǒ de , jiù shì jiē dài nà chà wǒ lái de 。 nǐ men zhōng jiān zuì xiǎo de , tā biàn wèi dà 。」

mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.

:「。」

yuē hàn shuō :「 fū zǐ , wǒ men kàn jiàn yí gè rén fèng nǐ de míng gǎn guǐ , wǒ men jiù jìn zhǐ tā , yīn wèi tā bù yǔ wǒ men yì tóng gēn cóng nǐ 。」

Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.

:「。」

yē sū shuō :「 bú yào jìn zhǐ tā ; yīn wèi bù dí dǎng nǐ men de , jiù shì bāng zhù nǐ men de 。」

Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.

yē sū bèi jiē shàng shēng de rì zi jiāng dào , tā jiù dìng yì xiàng yē lù sā lěng qù ,

Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.

便使

biàn dǎ fā shǐ zhě zài tā qián tou zǒu 。 tā men dào le sā mǎ lì yà de yí gè cūn zhuāng , yào wèi tā yù bèi 。

Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;

nà lǐ de rén bù jiē dài tā , yīn tā miàn xiàng yē lù sā lěng qù 。

song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.

:「 ?」

tā de mén tú yǎ gè 、 yuē hàn kàn jiàn le , jiù shuō :「 zhǔ a , nǐ yào wǒ men fēn fù huǒ cóng tiān shàng jiàng xià lái shāo miè tā men , xiàng yǐ lì yà suǒ zuò de ma ?」

Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?

:「

yē sū zhuǎn shēn zé bèi liǎng gè mén tú , shuō :「 nǐ men de xīn rú hé , nǐ men bìng bù zhī dào 。

Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.

。」

rén zǐ lái bú shì yào miè rén de xìng mìng , shì yào jiù rén de xìng mìng 。」 shuō zhe jiù wǎng bié de cūn zhuāng qù le 。

Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.

:「。」

tā men zǒu lù de shí hòu , yǒu yì rén duì yē sū shuō :「 nǐ wú lùn wǎng nǎ lǐ qù , wǒ yào gēn cóng nǐ 。」

Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.

:「。」

yē sū shuō :「 hú li yǒu dòng , tiān kōng de fēi niǎo yǒu wō , zhǐ shì rén zǐ méi yǒu zhěn tou de dì fāng 。」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.

:「!」:「。」

yòu duì yí gè rén shuō :「 gēn cóng wǒ lái !」 nà rén shuō :「 zhǔ , róng wǒ xiān huí qù mái zàng wǒ de fù qīn 。」

Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.

:「 。」

yē sū shuō :「 rèn píng sǐ rén mái zàng tā men de sǐ rén , nǐ zhǐ guǎn qù chuán yáng shén guó de dào 。」

Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.

:「。」

yòu yǒu yì rén shuō :「 zhǔ , wǒ yào gēn cóng nǐ , dàn róng wǒ xiān qù cí bié wǒ jiā lǐ de rén 。」

Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.

:「 。」

yē sū shuō :「 shǒu fú zhe lí xiàng hòu kàn de , bú pèi jìn shén de guó 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.