中文圣经

MÁC 14

đã biết 0/482

guò liǎng tiān shì yú yuè jié , yòu shì chú jiào jié , jì sī zhǎng hé wén shì xiǎng fǎ zǐ zěn me yòng guǐ jì zhuō ná yē sū , shā tā 。

Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ ăn bánh không men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm mưu đặng bắt Đức Chúa Jêsus và giết đi.

:「。」

zhǐ shì shuō :「 dāng jié de rì zi bù kě , kǒng pà bǎi xìng shēng luàn 。」

Vì họ nói rằng: Chẳng nên làm việc nầy trong này lễ, sợ sanh sự xôn xao trong dân chúng.

西

yē sū zài bó dà ní zhǎng dà má fēng de xī mén jiā lǐ zuò xí de shí hòu , yǒu yí gè nǚ rén ná zhe yí yù píng zhì guì de zhēn nǎ dā xiāng gāo lái , dǎ pò yù píng , bǎ gāo jiāo zài yē sū de tóu shàng 。

Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà Si-môn là kẻ phung. Ngài đang ngồi bàn ăn, có một người đàn bà vào, đem một cái bình bằng ngọc, đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá, đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Jêsus.

:「

yǒu jǐ gè rén xīn zhōng hěn bù xǐ yuè , shuō :「 hé yòng zhè yàng wǎng fèi xiāng gāo ne ?

Có vài người nổi giận nói cùng nhau rằng: Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy?

。」

zhè xiāng gāo kě yǐ mài sān shí duō liǎng yín zi zhōu jì qióng rén 。」 tā men jiù xiàng nà nǚ rén shēng qì 。

Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê, mà bố thí cho kẻ khó khăn. Vậy, họ oán trách người.

:「

yē sū shuō :「 yóu tā ba ! wèi shén me nán wéi tā ne ? tā zài wǒ shēn shàng zuò de shì yí jiàn měi shì 。

Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy người mà chi? Người đã làm một việc tốt cho ta.

yīn wèi cháng yǒu qióng rén hé nǐ men tóng zài , yào xiàng tā men xíng shàn suí shí dōu kě yǐ ; zhǐ shì nǐ men bù cháng yǒu wǒ 。

Vì các ngươi hằng có kẻ khó khăn ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu.

tā suǒ zuò de , shì jìn tā suǒ néng de ; tā shì wèi wǒ ān zàng de shì bǎ xiāng gāo yù xiān jiāo zài wǒ shēn shàng 。

Người đã làm điều mình có thể làm được, đã xức xác cho ta trước để chôn.

。」

wǒ shí zài gào sù nǐ men , pǔ tiān zhī xià , wú lùn zài shén me dì fāng chuán zhè fú yīn , yě yào shù shuō zhè nǚ rén suǒ zuò de , yǐ wéi jì niàn 。」

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.

shí èr mén tú zhī zhōng , yǒu yí gè jiā lüè rén yóu dà qù jiàn jì sī zhǎng , yào bǎ yē sū jiāo gěi tā men 。

Bấy giờ, Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt là một trong mười hai sứ đồ, đến nơi các thầy tế lễ cả, để nộp Đức Chúa Jêsus cho.

便

tā men tīng jiàn jiù huān xǐ , yòu yīng xǔ gěi tā yín zi ; tā jiù xún si rú hé dé biàn bǎ yē sū jiāo gěi tā men 。

họ vui lòng mà nghe và hứa cho nó tiền bạc; rồi Giu-đa tìm dịp tiện để nộp Ngài.

:「?」

chú jiào jié de dì yī tiān , jiù shì zǎi yú yuè yáng gāo de nà yì tiān , mén tú duì yē sū shuō :「 nǐ chī yú yuè jié de yán xí yào wǒ men wǎng nǎ lǐ qù yù bèi ne ?」

Ngày thứ nhất về lễ ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?

:「

yē sū jiù dǎ fā liǎng gè mén tú , duì tā men shuō :「 nǐ men jìn chéng qù , bì yǒu rén ná zhe yì píng shuǐ yíng miàn ér lái , nǐ men jiù gēn zhe tā 。

Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ gặp một người xách vò nước; cứ theo sau,

:『。』

tā jìn nǎ jiā qù , nǐ men jiù duì nà jiā de zhǔ rén shuō :『 fū zǐ shuō : kè fáng zài nǎ lǐ ? wǒ yǔ mén tú hǎo zài nà lǐ chī yú yuè jié de yán xí 。』

hễ người vào nhà nào, các ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?

。」

tā bì zhǐ gěi nǐ men bǎi shè zhěng qí de yì jiān dà lóu , nǐ men jiù zài nà lǐ wèi wǒ men yù bèi 。」

Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng ta.

mén tú chū qù , jìn le chéng , suǒ yù jiàn de zhèng rú yē sū suǒ shuō de 。 tā men jiù yù bèi le yú yuè jié de yán xí 。

Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài đã phán, rồi dọn lễ Vượt Qua.

dào le wǎn shàng , yē sū hé shí èr gè mén tú dōu lái le 。

Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ đồ.

:「。」

tā men zuò xí zhèng chī de shí hòu , yē sū shuō :「 wǒ shí zài gào sù nǐ men , nǐ men zhōng jiān yǒu yí gè yǔ wǒ tóng chī de rén yào mài wǒ le 。」

Đang ngồi ăn, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta.

:「?」

tā men jiù yōu chóu qǐ lái , yí gè yi gè dì wèn tā shuō :「 shì wǒ ma ?」

Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài rằng: Có phải tôi chăng?

:「

yē sū duì tā men shuō :「 shì shí èr gè mén tú zhōng tóng wǒ zhàn shǒu zài pán zi lǐ de nà ge rén 。

Ngài đáp rằng: Aáy là một trong mười hai người, là người thò tay vào mâm cùng ta.

。」

rén zǐ bì yào qù shì , zhèng rú jīng shàng zhǐ zhe tā suǒ xiě de ; dàn mài rén zǐ de rén yǒu huò le ! nà rén bù shēng zài shì shàng dǎo hǎo 。」

Vì Con người đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.

:「」;

tā men chī de shí hòu , yē sū ná qǐ bǐng lái , zhù le fú , jiù bò kāi , dì gěi tā men , shuō :「 nǐ men ná zhe chī , zhè shì wǒ de shēn tǐ 」;

Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta.

yòu ná qǐ bēi lái , zhù xiè le , dì gěi tā men ; tā men dōu hē le 。

Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống.

:「

yē sū shuō :「 zhè shì wǒ lì yuē de xuè , wèi duō rén liú chū lái de 。

Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người.

。」

wǒ shí zài gào sù nǐ men , wǒ bú zài hē zhè pú táo zhī , zhí dào wǒ zài shén de guó lǐ hē xīn de nà rì zi 。」

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày ta sẽ uống trái nho mới trong nước Đức Chúa Trời.

tā men chàng le shī , jiù chū lái , wǎng gǎn lǎn shān qù 。

Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi ô-li-ve.

:「

yē sū duì tā men shuō :「 nǐ men dōu yào diē dǎo le , yīn wèi jīng shàng jì zhe shuō : wǒ yào jī dǎ mù rén , yáng jiù fēn sàn le 。

Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc.

。」

dàn wǒ fù huó yǐ hòu , yào zài nǐ men yǐ xiān wǎng jiā lì lì qù 。」

Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.

:「。」

bǐ dé shuō :「 zhòng rén suī rán diē dǎo , wǒ zǒng bù néng 。」

Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.

:「。」

yē sū duì tā shuō :「 wǒ shí zài gào sù nǐ , jiù zài jīn tiān yè lǐ , jī jiào liǎng biàn yǐ xiān , nǐ yào sān cì bú rèn wǒ 。」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.

:「。」

bǐ dé què jí lì dì shuō :「 wǒ jiù shì bì xū hé nǐ tóng sǐ , yě zǒng bù néng bú rèn nǐ 。」 zhòng mén tú dōu shì zhè yàng shuō 。

Nhưng Phi-e-rơ lại thưa cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.

西:「。」

tā men lái dào yí gè dì fāng , míng jiào kè xī mǎ ní 。 yē sū duì mén tú shuō :「 nǐ men zuò zài zhè lǐ , děng wǒ dǎo gào 。」

Kế đó, đi đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện.

yú shì dài zhe bǐ dé 、 yǎ gè 、 yuē hàn tóng qù , jiù jīng kǒng qǐ lái , jí qí nán guò ,

Ngài bèn đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não.

:「。」

duì tā men shuō :「 wǒ xīn lǐ shèn shì yōu shāng , jī hū yào sǐ ; nǐ men zài zhè lǐ děng hòu , jǐng xǐng 。」

Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức.

:「便。」

tā jiù shāo wǎng qián zǒu , fǔ fú zài dì , dǎo gào shuō :「 tǎng ruò kě xíng , biàn jiào nà shí hòu guò qù 。」

Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi mình.

:「。」

tā shuō :「 ā bà ! fù a ! zài nǐ fán shì dōu néng ; qiú nǐ jiāng zhè bēi chè qù 。 rán ér , bú yào cóng wǒ de yì sī , zhǐ yào cóng nǐ de yì sī 。」

Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.

:「西

yē sū huí lái , jiàn tā men shuì zhe le , jiù duì bǐ dé shuō :「 xī mén , nǐ shuì jiào ma ? bù néng jǐng xǐng piàn shí ma ?

Rồi Ngài trở lại, thấy ba người ngủ; bèn phán cùng Phi-e-rơ rằng: Si-môn, ngủ ư! Ngươi không thức được một giờ sao?

。」

zǒng yào jǐng xǐng dǎo gào , miǎn de rù le mí huò 。 nǐ men xīn líng gù rán yuàn yì , ròu tǐ què ruǎn ruò le 。」

Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.

yē sū yòu qù dǎo gào , shuō de huà hái shì yǔ xiān qián yí yàng ,

Ngài lại đi lần nữa, và cầu nguyện, y như lời trước.

yòu lái jiàn tā men shuì zháo le , yīn wèi tā men de yǎn jīng shèn shì kùn juàn ; tā men yě bù zhī dào zěn me huí dá 。

Ngài trở lại, thấy môn đồ còn ngủ, vì con mắt đã đừ quá; và không biết trả lời cùng Ngài thể nào.

:「

dì sān cì lái , duì tā men shuō :「 xiàn zài nǐ men réng rán shuì jiào ān xiē ba ! gòu le , shí hòu dào le 。 kàn nǎ , rén zǐ bèi mài zài zuì rén shǒu lǐ le 。

Ngài trở lại lần thứ ba, phán cùng môn đồ rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! thôi, giờ đã tới rồi; nầy, Con người hầu bị nộp trong tay kẻ có tội.

!」

qǐ lái ! wǒ men zǒu ba 。 kàn nǎ , nà mài wǒ de rén jìn le !」

Hãy chờ dậy, đi hè; kìa, đứa phản ta đã đến gần.

shuō huà zhī jiān , hū rán nà shí èr gè mén tú lǐ de yóu dà lái le , bìng yǒu xǔ duō rén dài zhe dāo bàng , cóng jì sī zhǎng hé wén shì bìng zhǎng lǎo nà lǐ yǔ tā tóng lái 。

Ngài đang còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến.

:「。」

mài yē sū de rén céng gěi tā men yí gè àn hào , shuō :「 wǒ yǔ shuí qīn zuǐ , shuí jiù shì tā 。 nǐ men bǎ tā ná zhù , láo láo kào kào dì dài qù 。」

Vả, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận.

:「」,便

yóu dà lái le , suí jí dào yē sū gēn qián , shuō :「 lā bǐ 」, biàn yǔ tā qīn zuǐ 。

Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy thầy! Rồi nó hôn Ngài.

tā men jiù xià shǒu ná zhù tā 。

Chúng bèn tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.

páng biān zhàn zhe de rén , yǒu yí gè bá chū dāo lái , jiāng dà jì sī de pú rén kǎn le yì dāo , xiāo diào le tā yí gè ěr duo 。

Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai đi.

:「

yē sū duì tā men shuō :「 nǐ men dài zhe dāo bàng chū lái ná wǒ , rú tóng ná qiáng dào ma ?

Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp.

殿。」

wǒ tiān tiān jiào xùn rén , tóng nǐ men zài diàn lǐ , nǐ men bìng méi yǒu ná wǒ 。 dàn zhè shì chéng jiù , wèi yào yìng yàn jīng shàng de huà 。」

Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.

mén tú dōu lí kāi tā , táo zǒu le 。

Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.

yǒu yí gè shǎo nián rén , chì shēn pī zhe yí kuài má bù , gēn suí yē sū , zhòng rén jiù zhuō ná tā 。

Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người.

tā què diū le má bù , chì shēn táo zǒu le 。

Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.

tā men bǎ yē sū dài dào dà jì sī nà lǐ , yòu yǒu zhòng jì sī zhǎng hé zhǎng lǎo bìng wén shì dōu lái hé dà jì sī yì tóng jù jí 。

Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại đó.

bǐ dé yuǎn yuǎn dì gēn zhe yē sū , yì zhí jìn rù dà jì sī de yuàn lǐ , hé chāi yì yì tóng zuò zài huǒ guāng lǐ kǎo huǒ 。

Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.

jì sī cháng hé quán gōng huì xún zhǎo jiàn zhèng kòng gào yē sū , yào zhì sǐ tā , què xún bù zhe 。

Vả, các thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Đức Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết.

yīn wèi yǒu hǎo xiē rén zuò jiǎ jiàn zhèng gào tā , zhǐ shì tā men de jiàn zhèng gè bù xiāng hé 。

Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau.

yòu yǒu jǐ gè rén zhàn qǐ lái zuò jiǎ jiàn zhèng gào tā , shuō :

Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng:

:『殿。』」

「 wǒ men tīng jiàn tā shuō :『 wǒ yào chāi huǐ zhè rén shǒu suǒ zào de diàn , sān rì nèi jiù lìng zào yí zuò bú shì rén shǒu suǒ zào de 。』」

Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất.

tā men jiù shì zhè me zuò jiàn zhèng , yě shì gè bù xiāng hé 。

Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.

:「?」

dà jì sī qǐ lái zhàn zài zhōng jiān , wèn yē sū shuō :「 nǐ shén me dōu bù huí dá ma ? zhè xiē rén zuò jiàn zhèng gào nǐ de shì shén me ne ?」

Khi ấy, thầy cả thượng phẩm đứng dậy giữa hội đồng, tra hỏi Đức Chúa Jêsus mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết về những điều các kẻ nầy cáo ngươi sao?

:「?」

yē sū què bù yán yǔ , yí jù yě bù huí dá 。 dà jì sī yòu wèn tā shuō :「 nǐ shì nà dāng chēng sòng zhě de ér zi jī dū bú shì ?」

Nhưng Đức Chúa Jêsus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Aáy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không?

:「。」

yē sū shuō :「 wǒ shì 。 nǐ men bì kàn jiàn rén zǐ zuò zài nà quán néng zhě de yòu biān , jià zhe tiān shàng de yún jiàng lín 。」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.

:「

dà jì sī jiù sī kāi yī fu , shuō :「 wǒ men hé bì zài yòng jiàn zhèng rén ne ?

Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi?

?」

nǐ men yǐ jīng tīng jiàn tā zhè jiàn wàng de huà le 。 nǐ men de yì jiàn rú hé ?」 tā men dōu dìng tā gāi sǐ de zuì 。

Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.

:「!」

jiù yǒu rén tǔ tuò mò zài tā liǎn shàng , yòu méng zhe tā de liǎn , yòng quán tou dǎ tā , duì tā shuō :「 nǐ shuō yù yán ba !」 chāi yì jiē guò tā lái , yòng shǒu zhǎng dǎ tā 。

Có kẻ nhổ trên Ngài, đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các lính canh lấy gậy đánh Ngài.

使

bǐ dé zài xià biān yuàn zi lǐ ; lái le dà jì sī de yí gè shǐ nǚ ,

Phi-e-rơ đang ở dưới nơi sân, có một đầy tớ gái của thầy cả thượng phẩm đến,

:「。」

jiàn bǐ dé kǎo huǒ , jiù kàn zhe tā , shuō :「 nǐ sù lái yě shì tóng ná sā lè rén yē sū yì huǒ de 。」

thấy Phi-e-rơ đang sưởi, ngó người mà rằng: ngươi trước cũng ở với Jêsus Na-xa-rét!

:「。」

bǐ dé què bù chéng rèn , shuō :「 wǒ bù zhī dào , yě bù míng bái nǐ shuō de shì shén me 。」 yú shì chū lái , dào le qián yuàn , jī jiù jiào le 。

Nhưng người chối rằng: Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi. Đoạn, người bước ra tiền đường, thì gà gáy.

使:「。」

nà shǐ nǚ kàn jiàn tā , yòu duì páng biān zhàn zhe de rén shuō :「 zhè yě shì tā men yì dǎng de 。」

Đầy tớ gái đó thấy người, lại nói cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó.

:「。」

bǐ dé yòu bù chéng rèn 。 guò le bù duō de shí hòu , páng biān zhàn zhe de rén yòu duì bǐ dé shuō :「 nǐ zhēn shì tā men yì dǎng de ! yīn wèi nǐ shì jiā lì lì rén 。」

Nhưng người lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê.

:「。」

bǐ dé jiù fā zhòu qǐ shì dì shuō :「 wǒ bú rèn de nǐ men shuō de zhè ge rén 。」

Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi nói đó!

:「。」

lì shí jī jiào le dì èr biàn 。 bǐ dé xiǎng qǐ yē sū duì tā suǒ shuō de huà :「 jī jiào liǎng biàn yǐ xiān , nǐ yào sān cì bú rèn wǒ 。」 sī xiǎng qǐ lái , jiù kū le 。

Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần. Người tưởng đến thì khóc.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.